Suốt ngày chán chường thảm não, hằng đêm thao thức, xem thường mọi thứ vinh hoa tạm bợ, chỉ suy nghĩ làm sao tìm ra nguyên nhân nào đã đưa con người vào vòng luẩn quẩn sanh - tử, tử - sanh, muôn trùng khổ não, suốt kiếp này qua kiếp nọ không ngày ra khỏi. Một mặt, vì lòng thương yêu rộng lớn toàn dân khổ đau trong đất nước mình; mặt khác, Thái tử muốn tìm ra phương thuốc “Bất sanh bất diệt” để giải thoát khổ não cho muôn loài chúng sanh. Thế là, vén rèm, rỏ giọt lệ luyến lưu, ngắm nhìn vợ con thân yêu lần cuối, rồi hy sinh hạnh phúc cá nhân, âm thầm lặng lẽ, một mình một ngựa Kiền-trắc lúc nữa đêm vượt sông A-nô-ma để ra đi tìm đường giải thoát khổ não cho muôn loài. Thử hỏi, chỉ với tuổi đôi mươi mà sao Thái tử lại có lý tưởng siêu việt như vậy? Đó chính là nhân duyên chín muồi nên mới cảm Phật xuất thế. Nhờ sự thị hiện Đản sanh của đức Phật mà nhân loại mới có được diệu phương giải thoát sanh tử. Nhờ vào sự quyết tâm của thái tử Tất-đạt-đa và những chặng đường gian lao vượt núi băng rừng, tầm sư học đạo, tu hành trong núi tuyết lạnh rét, sáu năm khổ hạnh, bốn mươi chín ngày tọa thiền miêm mật, tư duy đến cực độ, lúc công viên quả mãn thì trong cơn chúng sanh đang ngon giấc ngủ, chìm trong mộng ảo, Ngài hoát nhiên đại ngộ, thoát khỏi sanh tử, trở thành bậc chánh đẳng chánh giác là đức Phật Thích Ca Mâu Ni giáo chủ cõi Ta bà.
Sau khi giác ngộ, Ngài thực thi tâm nguyện tuyên dương chánh Pháp, hoằng hóa chúng sanh. Hành trạng của Ngài chính là ngọn Minh đăng tỏa chiếu ba cõi, không những thuyết pháp hóa độ khiến chúng sanh thấm nhuận pháp vũ giải thoát khổ đau, mà còn phương tiện phổ tế hàm linh trong ba đường khổ Ngạ quỷ, Súc sanh, Địa ngục. Thế gian mệnh tận, đức Phật thị hiện Niết-bàn, giữa hai hàng cây Ta-La, tứ chúng đệ tử vì lưu luyến mà lệ rơi. Với tâm từ bi vô hạn thương chúng sanh chìm trong bể khổ đã thôi thúc Thái tử xuất gia tu học. Sau khi thành đạo, Ngài đã cống hiến toàn bộ đời mình cho sự nghiệp hoằng dương chánh Pháp, phổ độ chúng sanh. Ròng rã suốt 49 năm thuyết pháp, đàm kinh hơn 300 hội, du hóa khắp nẻo đường. Tùy từng trình độ tiếp thu của mỗi hạng người trong từng xã hội, Ngài đều thiết lập phương tiện Pháp để “Khế lý khế cơ” nên giáo lý thuyết giảng vô cùng phong phú. Bao gồm Tiểu thừa, Đại thừa, Nhất thừa Phật, có khi Ngài nói Vô lượng nghĩa pháp, khi thì thuyết tự tánh không, lúc thì bảo là thành Phật phải trãi qua tam đại A-tăng-kỳ-kiếp, khi thì nói thành Phật trong nhất niệm, khi thì nói Pháp chân thật, khi thì lập ra giả pháp. Lúc thì nói có quá khứ, hiện tại, vị lai, khi thì phủ định. Lúc thì bảo Pháp có thứ lớp, khi thì nói Pháp không có thứ lớp như trong kinh Lăng Nghiêm; lúc thì nói có Tâm - Phật - chúng sanh, thế rồi sau đó lại bảo không có Tâm - Phật - chúng sanh, tất cả vạn Pháp đều bình đẳng, Nhất thiết Pháp giai “Như”.
Cho nên, Pháp của đức Phật không có một môn nào nhất định, nhưng đều không tách rời hương vị giải thoát, không cách biệt sự hiểu biết ở thế gian. “Phật Pháp bất định pháp, bất ly thế gian giác”. Giáo lý đức Phật rất gần gũi với nhân loại, Ngài không tự cho mình là đấng Toàn giác, không khẳng định lập thuyết của mình là vĩnh hằng, mà luôn đề cao vị trí chúng sanh trong vai trò xây dựng xã hội hướng tới chân - thiện - mỹ. Điều này thể hiện qua yếu chỉ kinh Lăng Già: Suốt khoảng thời gian 49 năm thuyết pháp độ sanh, ta chưa hề nói lời nào, chưa từng thuyết một pháp nào, chưa từng độ chúng sanh nào. Và bảo : “Nhất thiết Tu-đa-la như tiêu nguyệt chỉ” (Tất cả các Kinh mà đức Phật đã nói như ngón tay chỉ mặt trăng). Đức Phật là bậc Toàn giác, vì thương xót chúng sanh mê tối nên mới lập ra phương tiện pháp, và làm bạn đồng hành chỉ lối giải thoát sanh tử cho chúng ta, chứ Ngài không phải là đem sự giác ngộ của mình tạo ra lập thuyết buộc chúng sanh phải tôn sùng kính ngưỡng. Vì thế, kinh Kim Cang, đức Phật dạy: “Nhữ đẳng Tỳ-kheo, tri Ngã thuyết Pháp, như phiệt dụ giả, Pháp thượng ưng xả, hà huống phi Pháp.” (Nầy các Tỳ-kheo! nên biết pháp của ta đã nói giống như chiếc bè, chánh Pháp còn bỏ, huống chi tà pháp.) Khi nghe vậy, thì điều đầu tiên thính giả không thể không nghi ngờ Phật nói đâu là đúng đâu là sai. Tại sao lời đức Phật dạy lại luôn thay đổi? Và điều gì đã minh chứng cho lập thuyết của Ngài? Chính vì lẽ này, nên trong Trí Độ Luận đã nói rằng : “Phật pháp đại hải, tín vi năng nhập”. (Biển lớn Phật pháp, có niềm tin là vào được,)
Đại dương mênh mông, càng lặn sâu càng thấy nhiều điều kỳ bí; biển lớn Phật pháp nan văn, càng đi vào càng rộng thênh thang vô lối. Nếu người không có niềm tin với Phật pháp, thì dù đọc Phật kinh vạn quyển, tìm vô lượng nghĩa, phân tích đánh giá để tìm ra chổ hay dỡ, đúng sai, thật giả… hoàn toàn là chuyện hoài công vô ích. Vì sự chứng ngộ của đức Phật đều dựa vào bản tâm vốn dĩ thanh tịnh của chúng sanh mà chứng được “Tự Giác Thánh Trí”. Tự Giác Thánh Trí này chỉ khi đạt được Toàn giác mới tỏ suốt, duy đức Phật mới có được. Trong Tự Giác Thánh Trí này thể hiện trong kinh Lăng Già, đức Phật thấy tất cả vạn Pháp đều bình đẳng không hai, không có hư thực, không có Sanh tử - Niết bàn, không có Phật - chúng sanh, không có Bồ đề - Phiền não, không có pháp nọ pháp kia, không có ngôn thuyết, không có kinh luận, tất cả đều rỗng không, là cảnh giới thanh tịnh vắng lặng, bình đẳng rốt ráo, không có quá khứ, hiện tại, vị lai; không có vô lượng Phật, không có nhất Phật. Vì nếu có Phật tức có Pháp, có Pháp tức vướng vào bốn tướng “Ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả”, vướng vào bốn tướng này là vướng vào ngoại cảnh, tức vướng vào Pháp, vướng vào Pháp thì chấp Pháp, chấp Pháp là hư vọng, đã hư vọng thì không thể gọi là Phật Pháp. Đấy là lý do vì sao, Bồ tát ở quốc Độ Diệu Hỷ cõi đức Vô Động Như Lai hiện thân đại sĩ Duy Ma trợ Phật Thích Ca tuyên dương giáo hóa cõi Ta-Bà. Ngài tuyên dương Pháp “Tâm tịnh độ tịnh” (Tâm thanh tịnh thì cõi nước thanh tịnh), “Nhất tâm thị đạo tràng” (Tất cả mọi nơi mọi lúc khi tâm đạt nhất niệm chính là đạo tràng); “Nhược tâm thanh tịnh tất sanh thật tướng” (Nếu bản tâm mỗi người thanh tịnh thì thật tướng hiển bày.) Và hình ảnh sống động nhất chính là câu hỏi của bậc Đại Trí Văn Thù về pháp môn Không có hai, nhưng đại sỹ Duy Ma lặng thinh không đáp? Điểm này khiến các hàng Thanh văn đệ tử Phật và các thính chúng không khỏi ngạc nhiên ngơ ngác. Vì Đại Trí Văn Thù là biểu trưng trí tuệ bậc nhất trong các hàng đại Bồ-tát, không lẽ câu hỏi của Ngài Văn Thù có gì không ổn sao? Hay Duy Ma ngạo mạn xem thường không trả lời?! Điểm này khiến toàn thể thính chúng hồi hộp? Trước diễn đàn pháp hội với thính chúng đông nghịt gồm nhiều tầng lớp nhân sỹ như vậy, nhưng sau vẻ lặng im của Duy Ma, ngài Văn Thù lại mỉm cười? Thì ra Pháp là như thế đó! “PHÁP NHĨ NHƯ THỊ, PHÁP BẤT KHẢ THUYẾT!”
Với thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa toàn cầu hiện nay, cuộc sống tất bật hối hả khiến mỗi người chúng ta bị dòng đời trôi cuốn, xã hội ngày càng tiến sâu vào cuộc sống kinh tế thị trường, chen chúc đua tranh với bản kịch trường tìm lợi cầu danh, để gọi là tạo cuộc sống ấm no hạnh phúc bản thân. Đây là nhu cầu tất yếu trong cuộc sống mà bất kỳ ai cũng khao khát. Nhưng chúng ta quên rằng, chạy theo ngoại cảnh chính là đánh mất viên minh châu giá trị của chính mình. Viên minh châu đó là “Tâm bổn lai thanh tịnh”. Chúng sanh lặn ngụp trong biển dục lạc, dẫu giàu sang vàng gấm đầy kho, nhưng rồi vô thường ập đến phải ra đi với hai bàn tay trắng với tiếng khóc não nề của xóm làng tiễn biệt, cùng tiếng kèn ọ e, chiêng trống tiễn hồn, gió thu bầu bạn. Ai là bằng hữu, ai là thân quyến! Khi vô thường chợt đến mới tỉnh ngộ thì quá muộn màng. Hàng ngày không dụng công thì lấy đâu ra sức đề kháng. Chỉ lo miếng cơm manh áo, đem thân mình suốt đời quẳng thí cho cuộc sống xô bồ thì còn gì là ý nghĩa. Lúc thoi thóp, mới nhớ tới Phật thì Phật cũng vô phương. Trong pháp giới tánh, vạn pháp bình đẳng, chúng sanh và Phật đều như nhau. Vì u mê nên mới có giác ngộ, vì có chúng sanh nên mới có Phật. Chúng sanh không còn Phật cũng không còn. Phật ra đời chỉ vì lòng bi mẫn phổ độ chúng sanh mà thiết lập pháp phương tiện!
Phật dạy: “Nhất thiết chúng sanh giai năng tác Phật” (Tất cả chúng sanh đều có thể thành Phật được). Vậy, chúng ta còn chần chờ gì nữa không quay về chỗ tôn kính nơi lòng mình, quay về chỗ tôn kính ấy tức là về với bản tâm thanh tịnh vắng lặng, về với bản tâm thanh tịnh vắng lặng tức là về với chân như, mà chân như chính là Nhất niệm tâm, nhất niệm tâm là tâm từ bi đại đồng, không có sự phân biệt, không phân biệt thì không ràng buộc về ranh giới, không bị ràng buộc thì tâm được tự tại giải thoát. Đấy chính là Phật. “Phật tại tâm trung”, “Tâm trung hữu Phật”. Nương theo Phật ngữ thì bản tâm mỗi người luôn được tự tại, khi được tự tại thì sống cõi uế trược Ta-bà cũng chính là cõi thế giới cực lạc. Chỉ khác nhau tâm - hạnh - nguyện của từng vị khi đã lãnh hội tông chỉ Phật Đà. Kinh Hoa Nghiêm dạy: “Nhân sinh tối thắng, năng sinh nhất thiết chư thiện pháp cố”. (Con người là trên hết, sanh ra được tất cả pháp lành). Đấy chính là con đường tươi đẹp khuyến khích mọi người hướng đến chỗ toàn chân - toàn thiện - toàn mỹ.
Kỷ niệm ngày đức Phật thành đạo, chúng ta lẽ nào thờ ơ về những chặng đường gian nan vì chúng sanh của Ngài. Giờ phút thiêng liêng này, tất cả chúng ta Nhất tâm nhiếp niệm tưởng đến Phật Đà. Tâm - tâm dung thông, “Đẳng đồng pháp giới hàm thanh tịnh” tất được mười phương chư Phật, trong chỗ “Minh minh chi trung” thùy từ gia hộ. Công đức tưởng Phật như thế bất khả tư nghị, đem công đức bất khả tư nghị này hồi hướng pháp giới chúng sanh, đắc văn Phật pháp, nguyện cầu chư hàm linh trong ba đường Phật oai quang siêu sanh Cực lạc, các oan hồn uổng tử, vong linh bất đắc kỳ tử trong ba cõi được thác sanh tịnh giới. Người có tâm niệm như vậy chính là đại pháp cúng dường đức Phật. Thập phương Như Lai đều hoan hỷ và công đức lễ Phật của chúng ta cũng được viên mãn.
“Nhược nhân dục liễu tri,
Tam thế nhất thiết Phật,
Ưng quán pháp giới tánh,
Nhất thiết duy tâm tạo”.
(Nếu ai muốn biết rõ, ba đời mười phương Phật. Nên quán tánh Pháp giới, tất cả tạo do Tâm).
THANH TỊNH PHÁP THÂN ĐẠI TỲ-LÔ GIÁ-NA PHẬT.





7
3021
92288
