Ta là Phật đã thành

Tác giả: Huệ Giáo

 

Sau khi chia tay những người Thầy kiệt xuất, bạn đồng tu đã từng trải nghiệm qua nhiều pháp môn và những năm trầm mình trong khổ hạnh, sa môn Gautama quyết định đơn thân độc mã đi vào rừng sâu để tìm ra chân lý giải thoát, khi quả quyết rằng những quả vị tu chứng của các bậc thầy mà Ngài đã học được chưa phải là rốt ráo, không phải con đường thoát khỏi vòng quay sanh tử. Sức nguyện lớn của sa môn Gotama là phải đạt giác ngộ, tìm ra con đường thoát ly sanh tử, cứu độ chúng sanh. Đại chí nguyện và đại bi lực ẩn chứa trong tâm thức của Ngài, được biểu cảm qua câu nói cực kỳ dõng mãnh, thể hiện sức mạnh Toàn giác của con người tỉnh thức: “Ta ngồi nơi đây gia tâm thiền định, dù thịt nát xương tan, nếu chưa chứng được vô thượng chánh đẳng chánh giác, ta quyết không rời khỏi chỗ này!”.

Thật vậy, trong suốt 49 ngày đêm miên mật thiền định dưới cội cây cổ thụ Assatha[1], khi ánh sao mai chiếu sáng rực rỡ giữa màn đêm, thì cũng chính lúc sự kiện giác ngộ bừng sáng trong tâm thức của Ngài. Sa môn Gautama đã thứ lớp mở toang màn vô minh đã che lấp chúng sanh qua từng kiếp sống. Ngài đã khẳng định với thế giới loài người, cõi trời và ba ngàn thế giới Phật trong hoa tạng pháp giới: “Sanh đã tận, Phạm hạnh dĩ thành”. Từ nay, Ngài là người chiến thắng hoàn toàn, một con người tự do, tự tại giữa thời gian vô tận và không gian vô biên.

Sau khi thành đạo, cũng chính là lúc Thái tử Tất Đạt Đa trịnh trọng tuyên bố Ta là một vị Toàn giác, một vị Phật đã thành, xưng hiệu Thích Ca Mâu Ni Phật. Một chúng sanh sở hữu toàn bộ trí tuệ của nhân loại, người đã chiến thắng nội ma ngọai chướng để kết thúc một quá trình thực nghiệm chân lý. Sự thành đạo của đức Phật, cũng chính là sự đánh dấu một con đường dài tìm kiếm giải thóat, con đường mà trải qua bao kiếp sống, Ngài đã dốc hết tâm nguyện của mình thông qua sự tu tập. Giây phút giác ngộ của đức Phật cũng khép lại lộ trình hành Bồ tát đạo suốt ba A tăng kỳ kiếp. Lời thọ ký của đức Phật Nhiên Đăng đã được chứng minh, ước nguyện của chính Ngài đã thành tựu, năng lực giác ngộ của con người được thể hiện một cách sống động và đầy uy lực của một bậc Vô úy. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đầy đủ những đặc tính Đại hùng, Đại lực, Đại từ bi.

Sự giác ngộ để thành một vị Phật hiện tại là khẳng định một sự trở về trong pháp tính chân như, trong chân tâm thanh tịnh, viên giác diệu tâm, Như Lai Tạng tánh nối tiếp chủng Phật của mỗi chúng sanh. Sự thành đạo của đức Phật là sự hiện tướng như một con người đã đi đến đích, thấy rõ ngôi nhà vô minh trói buộc vô số chúng sanh đang đắm chìm:

“Này hỡi người thợ làm nhà,

Như Lai đã tìm được Ngươi,

Từ nay Ngươi không còn cất nhà cho Như Lai nữa,

Tất cả sườn nhà đều bị gãy, cây đòn dong của Ngươi dựng lên cũng bị phá tan, Như Lai đã chứng quả Vô sanh bất diệt, Như Lai tận diệt mọi ái dục”[2].

Sự thành đạo của đức Phật Thích Ca Mâu Ni là một thông điệp sống động và chuyển tải toàn bộ nội dung giáo dục sâu sắc vô tiền khoáng hậu. Bản văn Ngài đã gửi đến để khuyến khích thế giới loài người, và trong các cảnh giới chúng sanh khác được thâu gọn trong sáu chữ: CHÚNG SANH LÀ PHẬT SẼ THÀNH.

Không còn một sự giáo dục nào cao thượng hơn hết, và có thể so sánh được khi cho chúng sanh biết tất cả đều có Phật tính. Mỗi chúng sanh đều có khả tính vô biên, và đều có thể thành Phật. Phật tính của mỗi chúng sanh mất đi chính là sự trôi dạt theo dòng chảy vô minh. Con đường giáo dục Nhất thừa được đức Phật nói trong kinh Pháp hoa, chính là một sự khẳng định tuyệt đối về khả năng của mỗi chúng sanh, ai cũng có tánh giác và ai cũng có thể giác ngộ. Không có sự giáo dục nào cao cả hơn nữa, khi đối tượng giáo dục biết xác định lại khả năng của chính mình, một khả năng có thể thành tựu mọi ngóc ngách đời sống nằm ẩn dật trong nhận thức và ý chí của mình. Phật là con người giác ngộ. Giác ngộ toàn bộ hệ thống trật tự của nhân sinh và thế giới quan, thì còn con đường giáo dục nào so sánh hơn.

Bên cạnh hệ thống giáo dục Thượng thừa, sự thành đạo của đức Phật cũng chuyển tải nhiều nội dung khác nhằm hướng đến khai phóng tuệ giác của chúng sanh, đúng trong tinh thần Khai - Thị - Ngộ - Nhập Phật tri kiến. Khai - Thị là mở bày và chỉ cho chúng sanh thấy và biết được nhiều phương tiện để đi vào ý nghĩa đích thực của đời sống và thực hiện chân lý giải thoát. Nếu thế giới xung quanh là mặt bằng sinh trưởng, và chuyển đổi đời sống của con người thì sự giáo dục này cho chúng sanh thấy toàn bộ chúng là một hệ thống tương quan tương duyên để sinh tồn. Từ điều thấy và biết đó, chúng sanh bừng ngộ được rằng không có một ngã thể nào trong hệ thống tương duyên sanh khởi này mà chính là vô ngã pháp. Tính chất vô ngã của các pháp chính là Phật tính hay pháp tính (tri kiến Phật) nơi chúng sanh hữu tình và vô tình lưu xuất. Khi chúng sanh hiểu rõ được, ngay bản ngã mình đang sống cũng là giả dối, không thật thì cũng có thể buông xả được những gì mình đang bám víu. Tư duy về vô ngã của vạn pháp chính là một sự trưởng thành trong trật tự sinh tồn, và có khả năng làm mới các hiện tượng, vì lẽ thế giới này là một dòng trôi chảy không bao giờ ngừng nghỉ. Sự có mặt của các pháp chính là sự phản diện giữa cái có và cái không để khẳng định một cái không thật trong trật tự thế giới hiện hữu. Hiểu rõ được trật tự thế giới là một sự tương duyên tương tức, cái này hiện hữu bởi cái kia hiện hữu, cái này tan rã bởi cái kia tan rã để không bám víu đó là trí tuệ siêu việt, mà chúng sanh cần phải đạt đến.

Sự thành đạo của đức Phật không những cho chúng ta những bài học sâu sắc về lý tưởng giải thoát giác ngộ trong một tương lai nào đó, mà rất thực tiễn trong đời sống thường nhật. Trước nhất, chúng ta xác định sự hằng hữu của tánh giác luôn hiện hữu trong mỗi con người, thực tế tánh giác đó có thể thực hiện được ngay trong cuộc sống. Thứ đến, bài học quên mình không phải là đánh mất mình mà chính là quên mình để phục vụ tha nhân. Chí nguyện thành Phật để cứu độ chúng sanh là một chí nguyện lớn lao và cao thượng không thể thỏa mãn trong một cái gì đang sở hữu, và không nắm giữ cái đang được sở hữu. Thứ nữa, sự giác ngộ thành Phật của Ngài là một minh chứng hùng hồn kết quả của một quá trình đeo đuổi, thực hiện sự tự hoàn thiện của chính mỗi người.

Hôm nay, chúng ta kỷ niệm ngày Thành đạo của Ngài, chính là sự nhắc nhở cần phải khơi dậy khả tính vô biên mà mỗi con người đã và đang sở hữu, để tiếp tục con đường dấn thân phục vụ tha nhân, làm lợi lạc, mang lại hạnh phúc cho mình và cho người, như đức Phật đã từng nói: “Ta ra đời vì an lạc cho số đông, vì hạnh phúc cho chư thiên và loài người”.



[1]Đức Phật Lịch Sử, Trần Phương Lan dịch, Nxb Tp. HCM, 2000, tr 151. (Cây được tôn xưng là Thánh thọ Bồ đề).

 [2] Đức Phật và Phật Pháp, Phạm Kim Khánh dịch, Nxb Tp HCM, 1998, tr 66.

Trang Ảnh

Pháp Âm

Thống kê

Hiện có 1 khách đang trực tuyến

7

3021

92288

 

Âm lịch

Copyright @ 2009-2010 Chùa Kỳ Viên Trung Nghĩa
132 Sinh Trung, Nha Trang, Khánh Hòa, Việt Nam
Điện thoại: +84.58.3827197; 3500252
Cố Vấn: Hòa Thượng Thích Trí Viên | Biên Tập: ĐĐ. Thích Huệ Pháp
Thư điện tử xin gởi về: huephap@gmail.com
Ghi rõ địa chỉ nguồn "kyvientrungnghia.com" khi đăng lại từ trang web này