Kinh Mi-tiên vấn đáp là bộ kinh thuộc giai đoạn sau, ghi chép về cuộc tranh luận của vua Mi-lan-đa – một vị vua có trí tuệ hơn người, từng khiến cho tu sĩ các tôn giáo phải chạy vào rừng để trú ẩn nhằm tránh bị nhà vua chất vấn về giáo lý của họ, kể cả chư vị tỷ kheo đắc quả A-la-hán cũng bị vua hỏi không kịp đáp.
Đọc quyển kinh này, chúng ta sẽ sáng tỏ được nhiều nghi vấn về Phật pháp; “những câu hỏi thì đa trí, sắc bén mà lời giải đáp lại thâm sâu, quản kiến, lợi tuệ; nhiều khi chỉ là những ví dụ cụ thể, bình dân, giản dị rất bổ ích cho các nhà học giả, người nghiên cứu, kẻ đa nghi cũng như sự học Phật của các hàng hậu tấn”[1]. Tôi đặc biệt thích quyển kinh đầy trí tuệ này. Tôn giả Mi-tiên với trí tuệ vô song của mình đã giúp Phật pháp một lần nữa cửu trụ nơi thế gian, thoát khỏi chướng duyên Mi-lan-đa. Vua Mi-lan-đa – tiền kiếp là một chú tiểu, do công phu quét rác (cần tảo già lam địa) mà có được trí tuệ và sự giàu có tột bực. Vì thế, có thể thấy rằng, công đức “Quét lá đa” nơi tự viện không thể khinh thường. Còn Tôn giả Mi-Tiên, trong tiền kiếp là thầy của chú tiểu, vì nghe lời phát nguyện sai lầm của chú tiểu mà nhiều kiếp phải tái sanh để hóa độ.
Quyển kinh dày 878 trang và trên 240 câu hỏi, nếu chúng ta chịu khó nghiên cứu và học hỏi thì rất hữu ích trên con đường học đạo. Trong phạm vi của một bài viết này, tôi chỉ giới thiệu ngắn về những câu hỏi có liên quan đến đức Thế Tôn của chúng ta mà thôi. Quý vị có thể tìm đọc quyển sách dịch của Hòa thượng Giới Nghiêm – do nhà xuất bản Phương Đông phát hành.
Đức Phật có phải là bậc Toàn giác không?
Đây là câu hỏi mà đức vua Mi-lan-đa muốn làm khó Tôn giả Mi-Tiên. Bởi chúng ta ai cũng thừa nhận một điều rằng trí tuệ của đức Thế Tôn vượt thoát tam giới, cao tột và trí tuệ của đức Phật chỉ có Phật mới có thể biết được. Vua Mi-lan-đa hỏi một câu bắt bí như sau: “…Thưa, đọc trong kinh, trẫm thấy rằng, có rất nhiều trường hợp đức Thế Tôn “hướng tâm” đến mới biết, không hướng tâm thì không biết. Như vậy, sao gọi là “Toàn giác” được?”[2].
Và sau khi được Tôn giả Mi-tiên giải thích các loại tướng tâm và khẳng định lại một lần nữa là chỉ có đức Thế Tôn mới có thể dễ dàng thấy biết tâm của chúng sanh và sự dễ dàng thấy biết tâm của chúng sanh giống như một xạ thủ thiện xảo, có mũi tên tốt, cây cung tốt, nhắm bắn một tấm vải được căng sẵn, mũi tên dễ dàng xuyên thủng tấm vải.
Tuy thế, vua Mi-lan-đa vẫn không vừa ý với câu trả lời trên lại còn muốn hỏi thêm: “Vì còn quán tâm, còn hướng tâm thì rõ ràng còn tìm kiếm, còn tìm kiếm thì nhất định còn điều chưa thấy, chưa biết – thì sao được gọi là ‘biết hoàn toàn’ được?”[3]
Tôn giả Mi-Tiên đã đưa ra một ví dụ tuyệt hảo để một lần nữa khẳng định trí tuệ siêu việt của đức Phật: “Ví như nhà phú hộ giàu có muôn kho, đầy ấp của cải… nếu như có người muốn xin nắm gạo để nấu cháo, thì cháo ấy có sẵn ngay hay không?”. Vua Mi-lan-đa trả lời là phải vào kho lấy gạo, bỏ vào nước, nấu một thời gian nào đó. Lúc ấy, Tôn giả Mi-tiên trả lời rằng: “Trí giác của đức Thế Tôn cũng giàu có, thịnh mãn như vị phú hộ kia, muốn sử dụng cái gì, thuộc “cái biết” nào thì phải vào kho mà lấy ra… Tuy nhiên, cái kho hiểu biết của đức Thế Tôn là vô hạn định, vô hạn lượng… muốn biết điều gì Ngài chỉ cần hướng tâm là biết ngay với thời gian còn nhanh hơn cái chớp mắt, với thời gian chỉ có một niệm”[4]. Một niệm ở đây có thể chỉ cho một sát na, nhanh còn hơn cái chớp mắt.
Sau khi được Tôn giả Mi-tiên khai thị bằng một ví dụ hình tượng dễ hiểu như thế, đức vua Mi-lan-đa đã không còn lý do để nghi nan nữa.
Khi đọc tác phẩm này, chúng ta có thể bắt gặp ở nhiều đoạn vua Mi-lan-đa thành thật thưa cùng với Tôn giả Mi-tiên rằng: Trẫm hỏi không phải muốn giải đáp mối nghi của mình mà còn là để cho người đời sau học hỏi. Vì thế, có nhiều câu hỏi, đức vua tuy đã hiểu nhưng vẫn thưa với Tôn giả Mi-tiên cho thêm ví dụ để có thể giải nghi nan cho người đời sau.
Với câu hỏi sau đây, chúng ta có thể thấy được dụng ý thâm sâu của vua Mi-lan-đa đã giúp chúng ta có thể chiến thắng được cái bắt bí của hàng ngoại đạo: Đức Thế Tôn có tâm đại bi hay không?[5] Ông đã dẫn chứng trường hợp của Đề-bà-đạt-đa, được đức Phật cho xuất gia để rồi sau này quay trở lại phá hòa hợp Tăng và làm thân Phật chảy máu – hai trong năm trọng tội phải bị đọa vào địa ngục A Tì. Đức vua lý giải rằng: Nếu đức Phật không cho Đề-bà-đạt-đa xuất gia thì làm gì có cơ hội để phải tạo ác nghiệp nặng như thế. Đức Phật với trí tuệ Toàn giác đã biết trước rằng sẽ có ngày Đề-bà-đạt-đa làm phản, rồi phải đọa vào ngục A Tỳ mà còn cho xuất gia thì tất yếu đức Phật không có lòng từ bi! Còn nếu đức Phật không biết chuyện đó sẽ xảy ra thì Ngài không phải là bậc Toàn giác!
Tôn giả Mi-Tiên đã từ tốn trả lời bằng những ví dụ rất đơn giản dễ hiểu để chấm dứt nghi ngờ của hàng ngoại đạo rằng: Với trí tuệ của đức Toàn giác, Ngài biết nếu không để Đề-bà-đạt-đa xuất gia thì ông sẽ không có cơ hội để gieo duyên với Phật pháp, được phước báo thanh tịnh hỗ trợ. Chính nhờ những phước duyên đó nên dù có bị đọa vào địa ngục A tỳ chừng một kiếp, sau đó ông sẽ đắc quả Độc Giác Phật. Cũng giống như người mẹ với tâm thương con dùng roi đánh con mình là mong nó chừa bỏ tật hư tánh xấu, chỉ mong nó trở thành người lành, người tốt mà thôi. Còn có nhiều ví dụ mà Tôn giả Mi-tiên đã dẫn dụ để cho người hỏi hiểu rõ thêm vấn đề này.
Hay một câu hỏi khác để bắt bí của vua Mi-lan-đa mà nếu không có trí tuệ xuất thế gian thì không thể nào có thể trả lời cho được. Vua Mi-lan-đa quả là kẻ muốn dồn người ta vào chỗ chết đây mà: Ai truyền giới cụ túc cho đức Phật? Vua muốn hỏi rằng, một vị Tỷ kheo muốn đầy đủ Cụ túc giới thì phải có những điều kiện nào? Rồi: đức Thế Tôn có Cụ túc giới không?... vậy ai là thầy Yết ma, thầy Hòa thượng tế độ cho đức Phật?... sao trong kinh sách không thấy nhắc tới. Khi thấy Tôn giả Mi-Tiên im lặng, vua đắc ý quay sang thính chúng ra hiệu để mọi người tạo thêm áp lực nhằm đánh gục tinh thần của đối thủ. Và cuối cùng thòng thêm một câu kết luận ghê gớm rằng: “Như thế, rõ ràng đức Phật chưa có cụ túc giới, đang tu bậc thấp, chưa tu lên bậc cao!”[6]
Tôn giả Mi-Tiên thông tuệ đã dùng chiêu “gậy ông đập lưng ông” nghĩa là tự chính vua giải đáp thông qua câu trả lời của chính mình. Và sau đó Tôn giả giải thích thêm rằng: giới luật ra đời là để ngăn ngừa những vọng động thô tháo của thân, khẩu, ý… trong khi đó, đức Phật giác ngộ giới luật, sống với giới luật ở trong tâm nên những biểu hiện ra bên ngoài của Ngài đều mẫu mực đoan nghiêm, mô phạm. Lại nữa, sở dĩ đức Thế Tôn cụ túc giới viên mãn không ai làm thầy, vì Ngài đã cùng Cụ túc giới là một, rồi đem giáo giới cho Tăng chúng, để Tăng chúng tu tập đi đến chổ không còn lỗi lầm. Rồi Tôn giả đưa thêm ví dụ sinh động để giải thích thêm khi được vua Mi-lan-đa yêu cầu: Đại vương là bậc tối thượng trong một nước, vậy có ai trong nước này oai lực hơn đại vương chăng? Có kẻ nào dám ngồi trên đầu trên cổ đại vương chăng?... cũng như thế đó, Cụ túc giới của đức Thế Tôn là có oai lực nhất, và không ai trên thế gian này có thể làm thầy của đức Toàn giác được.
Kinh Mi-Tiên vấn đáp này là một kho ví dụ rất sinh động. Chúng ta hàng hậu học, học chưa tới, nghĩ chưa thông có thể giải được những nghi vấn trong lòng khi nghiên cứu và tu tập Phật pháp bằng chính những ví dụ đơn giản này.





7
3021
92288
