“Khánh Hòa là xứ trầm hương
Non cao biển rộng người thương đi về”
Bước vào không gian triển lãm Tuần văn hóa Phật giáo toàn quốc 2009, tại số 7 đường Trần Phú, phường Vĩnh Nguyên, thành phố Nha Trang, mùi hương trầm nhè nhẹ thoang thoảng, lan tỏa khắp phòng, đó là hương từ những cây trầm nhiều năm tuổi của đất Khánh Hòa, quê hương Trầm kỳ, được trưng bày ở góc bên tay trái khu triển lãm từ ngoài bước vào.
Trong một không gian khiêm tốn, ba cây trầm được tỉa, gọt, xoi, dũa với bàn tay khéo léo của nghệ nhân đã trở thành ba tác phẩm nghệ thuật điêu khắc tuyệt mỹ đứng sừng sững như những chứng nhân lịch sử của vùng đất địa linh, nhân kiệt: đất KHÁNH người HÒA.
Vào phòng triển lãm văn hóa Phật giáo xứ trầm hương, những gì mà người thưởng lãm tiếp nhận đầu tiên là hình ảnh và hiện vật mang đậm bản sắc “Văn hóa Phật giáo xứ trầm hương”. Chúng ta rất ấn tượng với pháp tướng Tổ Phước Huệ, Tăng cang Hòa thượng, Tổ Khai sơn chùa Sắc tứ Hải Đức, Huế. Ngài huý thượng Ngộ hạ Tánh, tự Hưng Long, hiệu Phước Huệ, cùng đệ tử kỹ sư Frank M.Balk, người Mỹ.
Một câu chuyện có thật rằng: M. Balk thường nằm mộng thấy Phật Bà Quan Âm báo mộng “Người hãy mau mau đến một đất nước có tên là Việt Nam để gặp lại cha mình, người ấy giống ngươi như tạc, đó chính là người cha tiền kiếp, ông ta là một nhà sư và hiện nay đang trụ trì tại một ngôi chùa trên ngọn đồi gần thành phố” Ông đã đi tìm khắp Sài Gòn, Vũng Tàu, Cần Thơ, An Giang, Châu Đốc, Tây Ninh… nơi nào kỹ sư cũng đặt chân tới và vào tận trong chùa, tìm gặp vị trù trì và thật bất ngờ, kỳ diệu thay một ngày, cách nay 51 năm, kỹ sư M. Balk đã tìm đến một ngôi chùa nằm trên ngọn đồi ở Mã Vòng, đó là chùa Hải Đức Nha Trang. Viên kỹ sư được quý Thầy hướng dẫn vào chánh điện. Kỹ sư thấy vị trụ trì khoảng 70 tuổi đang ngồi tụng kinh trước bàn thờ Phật. Ông yên lặng đứng bên cây cột sau lưng vị sư già chờ đợi và quan sát. Khoảng nửa tiếng đồng hồ sau, Tổ Phước Huệ tụng kinh xong đứng dậy. Cuộc hội ngộ lạ lùng diễn ra sau đó, câu chuyện xảy ra vào lúc 16 giờ 30 chiều ngày 27/4/1958.
Thế rồi hai tuần sau, một buổi lễ quy y cho kỹ sư Frank M. Balk được tổ chức tại chùa Hải Đức Nha Trang. Tổ Phước Huệ đã chọn pháp danh cho kỹ sư là Chơn Trí.
Muốn hiểu rõ thêm xin mời đọc “Câu chuyện bằng chứng về sự luân hồi đầu thai” của Giáo sư Thạc sĩ Đoàn Văn Thông, nguyên Giảng sư Khoa học Đại học Huế, 1971.
Một việc làm phi phàm của Tổ Phước Huệ là đã thành tâm hiến cúng ngôi chùa Hải Đức, Nha Trang cho Hội Phật giáo Việt Nam lúc bấy giờ, để xây dựng Phật Học Viện Trung Phần, làm cơ sở đào tạo tăng tài, tiếp dẫn hậu lai, một công trình vĩ đại, đánh dấu móc son cho công cuộc chấn hưng nền Phật giáo nước nhà. Nơi đây đã hằng ghi lại đậm nét dấu ấn chư vị danh tăng, thạc đức từng lưu dấu bước chân hoằng hóa trên đất Khánh Hòa: Hòa thượng Thuyền Tôn, Hòa thượng Thích Giác Nhiên (Viện trưởng Phật học Viện Tp.), Hòa thượng Trí Quang (phó Viện trưởng), Hòa thượng Trí Thủ (Giám viện), Hòa thượng Thiện Siêu (Giáo thọ trưởng), Hòa thượng Huyền Quang (Tổng Thư ký), Hòa thượng Thiện Minh (Thủ quỷ)…
Tại không gian trưng bày hiện vật triển lãm còn lưu lại các văn bản lịch sử cách đây hơn nửa thế kỷ, ghi nhận sự kiện trọng đại này:
1.- Bản thỏa thuận nguyện cúng chùa, thành lập ngày 26.7.1956, có chứng kiến của ông Phó Tỉnh trưởng Khánh Hòa, Lê Bá Chẩn.
2.- Biên bản Hội đồng giao nhận chùa Hải Đức, các tài sản và bất động sản liên quan…
Đặt biệt nhìn bức chân dung Bồ Tát Thích Quảng Đức đang ngồi thanh thản viết di thư với những dòng chữ:
“Đệ tử hôm nay nguyện đốt mình
Làm đèn soi sáng nẻo vô minh
Khói thơm cảnh tỉnh ai còn ngốc
Tro trắng phẳng san hố bất bình
Thân cháy nát tan ra tro trắng
Thần thức nương về giúp sinh linh
Hởi ai mộng ảo đang còn mộng
Hãy gấp tỉnh đi kẻo giật mình…”
Đọc thơ di ngôn của Bồ tát, chúng ta mới thấy tinh thần vô uý của đạo giáo. Bồ tát Quảng Đức với Trái tim bất diệt luôn luôn sống mãi với thời gian.
Các nhà nghiên cứu văn hóa nói rằng: “Dân tộc Việt
Sáng ngày 20 tháng 4 nhuận năm Quý Mão, tức ngày 11-6-1963, từ một cuộc diễn hành của trên 800 vị Thượng tọa, Đại đức, Tăng, Ni và Phật tử từ chùa Phật Bửu đến chùa Xá Lợi, khi đoàn diễu hành tiến đến ngã tư đường Phan Đình Phùng và Lê Văn Duyệt (nay là đường Nguyễn Đình Chiểu và Cách Mạng Tháng Tám)…
Bùng cháy! Ngọn lửa ngất trời! Không thể nào tả xiết nỗi bàng hoàng của tất cả Tăng Ni và những người đứng xung quanh! Lệ rơi! Tiếng khóc vang lên!...
Sau 30 phút, thi hài của Hòa thượng Thích Quảng Đức được rước về chùa Xá Lợi trên một lá cờ Phật giáo. Tới cổng chùa ông Mai Thọ Truyền nằm lăn trên đất dưới thi hài của Hòa thượng từ cổng tới cửa nhà giảng. Rồi những làn sóng người bốn phương tràn tới chùa Xá Lợi để kính viếng một Bồ tát đã thiêu thân. Đài phát thanh trong nước và khắp thế giới đều kính cẩn đưa tin tự thiêu này”.
Sự kiện đã xảy ra vào lúc 9giờ 00 ngày 11.6.1963 (20 tháng 4 nhuận năm Quý Mão) cách đây nửa thế kỷ, nhưng bây giờ đọc lại đoạn hồi ký chúng ta không khỏi bàng hoàng, ngậm ngùi, kính phục…
Gần 15 phút sau, lửa tàn và Ngài ngã xuống, tay vẫn còn quyết ấn tam muội. Nhục thân của Ngài được đưa vào lò điện thiêu 4.000 độ, xương thịt cháy tiêu hết. Duy chỉ có trái tim của Ngài vẫn còn nguyên, được thiêu lần thứ hai vẫn không cháy.
Cảm niệm Bồ tát Thích Quảng Đức, nhà thơ Vũ Hoàng Chương trong bài thơ “Lửa từ bi” đã viết:
“Sáu ngã luân hồi đâu đó
Mang mang cùng nín thở
Tiếng nấc lên từng nhịp bánh xe quay
Không khí vặn mình theo, khóc òa lên nổi gió
Người siêu thăng… giông bão lắng từ đây…”
Ngọn lửa “thiêu” với sức nóng hàng ngàn độ đã không đốt cháy được trái tim kim cương bất hoại của Bồ tát “Vị pháp thiêu thân”. Ngọn lửa Quảng Đức không chỉ làm chấn động lương tâm nhân loại trên khắp thế giới mà còn đốt luôn một chế độ độc tài, bất công, thối nát, sau 9 năm cai trị miền Nam khiến người dân phải sống cuộc sống trong quằn quại đau thương, tủi nhục...
Sau ngày lật đổ Ngô triều vào ngày 01-11-1963, cửa chùa Xá Lợi rộng mở, mọi người tấp nập đến chùa lễ Phật và cung kính lễ “Trái tim bất diệt” còn nguyên vẹn.
Sau cùng “Trái tim bất diệt Bồ Tát Thích Quảng Đức” được đưa về tôn thờ tại Việt Nam Quốc Tự…”
“Trái tim bất diệt Bồ tát Quảng Đức là một chứng minh cụ thể cho tấm lòng của muôn người con Phật luôn yêu chuộng hòa bình, tự do và bình đẳng nhưng cũng kiên cường, bất khuất trước nạn cường quyền, độc tài và áp bức. “Trái tim bất diệt” đã trở thành biểu tượng tinh thần của Phật giáo Việt Nam và là trái tim của nhân loại đã và đang đấu tranh mãi cho tự do, bình đẳng, hòa bình, hạnh phúc nhân sinh…
Đến với không gian triển lãm: “Văn hóa giáo dục xứ Trầm hương” người thưởng ngoạn có thể cảm nhận về một nền văn hóa Phật giáo luôn gắn bó với văn hóa dân tộc. Nói cách khác hơn, đó là sự dung hợp giữa Phật giáo và “Văn hóa bản địa”. Những di vật và hình ảnh mà Phật giáo Khánh Hòa lưu giữ đến hôm nay là một trong những tài sản quý giá, góp phần làm giàu thêm nét văn hóa Khánh Hòa mà trong đó cụ thể là đất nước và con người Khánh Hòa. – trí bửu
“Khánh Hòa là xứ trầm hương
Non cao biển rộng người thương đi về”
Bước vào không gian triển lãm Tuần văn hóa Phật giáo toàn quốc 2009, tại số 7 đường Trần Phú, phường Vĩnh Nguyên, thành phố Nha Trang, mùi hương trầm nhè nhẹ thoang thoảng, lan tỏa khắp phòng, đó là hương từ những cây trầm nhiều năm tuổi của đất Khánh Hòa, quê hương Trầm kỳ, được trưng bày ở góc bên tay trái khu triển lãm từ ngoài bước vào.
Trong một không gian khiêm tốn, ba cây trầm được tỉa, gọt, xoi, dũa với bàn tay khéo léo của nghệ nhân đã trở thành ba tác phẩm nghệ thuật điêu khắc tuyệt mỹ đứng sừng sững như những chứng nhân lịch sử của vùng đất địa linh, nhân kiệt: đất KHÁNH người HÒA.
Vào phòng triển lãm văn hóa Phật giáo xứ trầm hương, những gì mà người thưởng lãm tiếp nhận đầu tiên là hình ảnh và hiện vật mang đậm bản sắc “Văn hóa Phật giáo xứ trầm hương”. Chúng ta rất ấn tượng với pháp tướng Tổ Phước Huệ, Tăng cang Hòa thượng, Tổ Khai sơn chùa Sắc tứ Hải Đức, Huế. Ngài huý thượng Ngộ hạ Tánh, tự Hưng Long, hiệu Phước Huệ, cùng đệ tử kỹ sư Frank M.Balk, người Mỹ.
Một câu chuyện có thật rằng: M. Balk thường nằm mộng thấy Phật Bà Quan Âm báo mộng “Người hãy mau mau đến một đất nước có tên là Việt Nam để gặp lại cha mình, người ấy giống ngươi như tạc, đó chính là người cha tiền kiếp, ông ta là một nhà sư và hiện nay đang trụ trì tại một ngôi chùa trên ngọn đồi gần thành phố” Ông đã đi tìm khắp Sài Gòn, Vũng Tàu, Cần Thơ, An Giang, Châu Đốc, Tây Ninh… nơi nào kỹ sư cũng đặt chân tới và vào tận trong chùa, tìm gặp vị trù trì và thật bất ngờ, kỳ diệu thay một ngày, cách nay 51 năm, kỹ sư M. Balk đã tìm đến một ngôi chùa nằm trên ngọn đồi ở Mã Vòng, đó là chùa Hải Đức Nha Trang. Viên kỹ sư được quý Thầy hướng dẫn vào chánh điện. Kỹ sư thấy vị trụ trì khoảng 70 tuổi đang ngồi tụng kinh trước bàn thờ Phật. Ông yên lặng đứng bên cây cột sau lưng vị sư già chờ đợi và quan sát. Khoảng nửa tiếng đồng hồ sau, Tổ Phước Huệ tụng kinh xong đứng dậy. Cuộc hội ngộ lạ lùng diễn ra sau đó, câu chuyện xảy ra vào lúc 16 giờ 30 chiều ngày 27/4/1958.
Thế rồi hai tuần sau, một buổi lễ quy y cho kỹ sư Frank M. Balk được tổ chức tại chùa Hải Đức Nha Trang. Tổ Phước Huệ đã chọn pháp danh cho kỹ sư là Chơn Trí.
Muốn hiểu rõ thêm xin mời đọc “Câu chuyện bằng chứng về sự luân hồi đầu thai” của Giáo sư Thạc sĩ Đoàn Văn Thông, nguyên Giảng sư Khoa học Đại học Huế, 1971.
Một việc làm phi phàm của Tổ Phước Huệ là đã thành tâm hiến cúng ngôi chùa Hải Đức, Nha Trang cho Hội Phật giáo Việt Nam lúc bấy giờ, để xây dựng Phật Học Viện Trung Phần, làm cơ sở đào tạo tăng tài, tiếp dẫn hậu lai, một công trình vĩ đại, đánh dấu móc son cho công cuộc chấn hưng nền Phật giáo nước nhà. Nơi đây đã hằng ghi lại đậm nét dấu ấn chư vị danh tăng, thạc đức từng lưu dấu bước chân hoằng hóa trên đất Khánh Hòa: Hòa thượng Thuyền Tôn, Hòa thượng Thích Giác Nhiên (Viện trưởng Phật học Viện Tp.), Hòa thượng Trí Quang (phó Viện trưởng), Hòa thượng Trí Thủ (Giám viện), Hòa thượng Thiện Siêu (Giáo thọ trưởng), Hòa thượng Huyền Quang (Tổng Thư ký), Hòa thượng Thiện Minh (Thủ quỷ)…
Tại không gian trưng bày hiện vật triển lãm còn lưu lại các văn bản lịch sử cách đây hơn nửa thế kỷ, ghi nhận sự kiện trọng đại này:
1.- Bản thỏa thuận nguyện cúng chùa, thành lập ngày 26.7.1956, có chứng kiến của ông Phó Tỉnh trưởng Khánh Hòa, Lê Bá Chẩn.
2.- Biên bản Hội đồng giao nhận chùa Hải Đức, các tài sản và bất động sản liên quan…
Đặt biệt nhìn bức chân dung Bồ Tát Thích Quảng Đức đang ngồi thanh thản viết di thư với những dòng chữ:
“Đệ tử hôm nay nguyện đốt mình
Làm đèn soi sáng nẻo vô minh
Khói thơm cảnh tỉnh ai còn ngốc
Tro trắng phẳng san hố bất bình
Thân cháy nát tan ra tro trắng
Thần thức nương về giúp sinh linh
Hởi ai mộng ảo đang còn mộng
Hãy gấp tỉnh đi kẻo giật mình…”
Đọc thơ di ngôn của Bồ tát, chúng ta mới thấy tinh thần vô uý của đạo giáo. Bồ tát Quảng Đức với Trái tim bất diệt luôn luôn sống mãi với thời gian.
Các nhà nghiên cứu văn hóa nói rằng: “Dân tộc Việt
Sáng ngày 20 tháng 4 nhuận năm Quý Mão, tức ngày 11-6-1963, từ một cuộc diễn hành của trên 800 vị Thượng tọa, Đại đức, Tăng, Ni và Phật tử từ chùa Phật Bửu đến chùa Xá Lợi, khi đoàn diễu hành tiến đến ngã tư đường Phan Đình Phùng và Lê Văn Duyệt (nay là đường Nguyễn Đình Chiểu và Cách Mạng Tháng Tám)…
Bùng cháy! Ngọn lửa ngất trời! Không thể nào tả xiết nỗi bàng hoàng của tất cả Tăng Ni và những người đứng xung quanh! Lệ rơi! Tiếng khóc vang lên!...
Sau 30 phút, thi hài của Hòa thượng Thích Quảng Đức được rước về chùa Xá Lợi trên một lá cờ Phật giáo. Tới cổng chùa ông Mai Thọ Truyền nằm lăn trên đất dưới thi hài của Hòa thượng từ cổng tới cửa nhà giảng. Rồi những làn sóng người bốn phương tràn tới chùa Xá Lợi để kính viếng một Bồ tát đã thiêu thân. Đài phát thanh trong nước và khắp thế giới đều kính cẩn đưa tin tự thiêu này”.
Sự kiện đã xảy ra vào lúc 9giờ 00 ngày 11.6.1963 (20 tháng 4 nhuận năm Quý Mão) cách đây nửa thế kỷ, nhưng bây giờ đọc lại đoạn hồi ký chúng ta không khỏi bàng hoàng, ngậm ngùi, kính phục…
Gần 15 phút sau, lửa tàn và Ngài ngã xuống, tay vẫn còn quyết ấn tam muội. Nhục thân của Ngài được đưa vào lò điện thiêu 4.000 độ, xương thịt cháy tiêu hết. Duy chỉ có trái tim của Ngài vẫn còn nguyên, được thiêu lần thứ hai vẫn không cháy.
Cảm niệm Bồ tát Thích Quảng Đức, nhà thơ Vũ Hoàng Chương trong bài thơ “Lửa từ bi” đã viết:
“Sáu ngã luân hồi đâu đó
Mang mang cùng nín thở
Tiếng nấc lên từng nhịp bánh xe quay
Không khí vặn mình theo, khóc òa lên nổi gió
Người siêu thăng… giông bão lắng từ đây…”
Ngọn lửa “thiêu” với sức nóng hàng ngàn độ đã không đốt cháy được trái tim kim cương bất hoại của Bồ tát “Vị pháp thiêu thân”. Ngọn lửa Quảng Đức không chỉ làm chấn động lương tâm nhân loại trên khắp thế giới mà còn đốt luôn một chế độ độc tài, bất công, thối nát, sau 9 năm cai trị miền Nam khiến người dân phải sống cuộc sống trong quằn quại đau thương, tủi nhục...
Sau ngày lật đổ Ngô triều vào ngày 01-11-1963, cửa chùa Xá Lợi rộng mở, mọi người tấp nập đến chùa lễ Phật và cung kính lễ “Trái tim bất diệt” còn nguyên vẹn.
Sau cùng “Trái tim bất diệt Bồ Tát Thích Quảng Đức” được đưa về tôn thờ tại Việt Nam Quốc Tự…”
“Trái tim bất diệt Bồ tát Quảng Đức là một chứng minh cụ thể cho tấm lòng của muôn người con Phật luôn yêu chuộng hòa bình, tự do và bình đẳng nhưng cũng kiên cường, bất khuất trước nạn cường quyền, độc tài và áp bức. “Trái tim bất diệt” đã trở thành biểu tượng tinh thần của Phật giáo Việt Nam và là trái tim của nhân loại đã và đang đấu tranh mãi cho tự do, bình đẳng, hòa bình, hạnh phúc nhân sinh…
Đến với không gian triển lãm: “Văn hóa giáo dục xứ Trầm hương” người thưởng ngoạn có thể cảm nhận về một nền văn hóa Phật giáo luôn gắn bó với văn hóa dân tộc. Nói cách khác hơn, đó là sự dung hợp giữa Phật giáo và “Văn hóa bản địa”. Những di vật và hình ảnh mà Phật giáo Khánh Hòa lưu giữ đến hôm nay là một trong những tài sản quý giá, góp phần làm giàu thêm nét văn hóa Khánh Hòa mà trong đó cụ thể là đất nước và con người Khánh Hòa.





7
3021
92288
