Hiếu đạo là đề tài bất hủ vượt cả thời gian lẫn không gian, và chỉ thấy được giá trị khi có những trái tim biết trân trọng về nghĩa tình Cha-mẹ. Hai bộ kinh gần gũi với nhân gian nhất, chứa đựng muôn trùng ân tình nhất, đó là kinh Vu Lan và kinh Địa Tạng Bồ-Tát Bổn Nguyện.
Kinh Vu Lan thì đức Phật giảng giải cho mọi người thấy rõ được sự hình thành Sắc-Thân ở cõi nhân gian, sắc-thân này có được là do tinh cha, huyết mẹ và thần thức của chính mình tạo nên, nhưng tấm thân này tồn tại hay không chính là nhờ vào ân tình sâu đậm và công ơn giáo dưỡng của song thân. Là những bậc đã cưu mang chúng ta “Chín tháng cưu mang”, “Ba năm bú mớm.” Vậy, tấm thân mỗi người sống trong vũ trụ này tồn tại, thì ân tình ấy có thể xóa nhòa được chăng, khi không có những tình thương của cha mẹ chăm sóc những thuở lọt lòng? Huống chi là khoảng thời gian dài tần tảo nuôi con khôn lớn! Sở dĩ, đức Phật “Lạy đống xương khô” trong kinh Vu Lan, là do đức Phật dùng huệ nhãn biết được trong nhiều đời kiếp. Vì thế, Ngài thấy được “Núi xương khô” kia không chỉ có cha-mẹ và người thân quá cố của người khác, mà còn có cả cha-mẹ và người thân của đức Phật trong thời quá khứ. Đức Phật lạy đống xương chính là thể hiện sự đáp đền ân tình dưỡng dục thiêng liêng cao cả nhất, rộng lớn hơn vũ trụ, sâu thẳm hơn đáy đại dương, cao hơn đỉnh Thái sơn, như trong Nan Báo kinh đức Phật dạy:“Tả kiên trì phụ, hữu kiên trì mẫu, kinh lịch thiên niên, tiện lợi bối thượng, du bất năng báo phụ mẫu chi ân.” (Dù người con chí hiếu nào, cõng người cha trên lưng trái và cõng người mẹ trên lưng phải, trải qua một nghìn năm đi vòng khắp quả địa cầu, thì vẫn không thể nào đền đáp được công ơn sinh thành dưỡng dục của Cha-mẹ.) Thật vậy, lúc còn sinh thời, mỗi đứa trẻ ra đời cho đến khi chập chững biết đi, ê a biết nói, rồi được cha-mẹ đưa đến trường lớp nuôi dưỡng ăn học, đến những kỳ thi, cha-mẹ phập phồng, ai ai cũng khao khát con mình được “Bảng hổ đề danh.” Đến tuổi trưởng thành, cha mẹ làm tròn trách nhiệm dựng vợ gả chồng, thì “Mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh”, ai nấy cũng tùy theo hoàn cảnh riêng của mình đều bôn ba với thời cuộc, muôn cảnh trái tình, tranh đấu lợi danh trong xã hội... Rồi cứ thế, ngày tháng tợ thoi đưa, đời người như “Bóng câu qua cửa sổ.” Dẫu mẹ-cha vẫn còn đó, nhưng cảnh đìu hiu quạnh quẽ tuổi xế chiều của cha-mẹ được mấy người con ngoái trông thương tưởng? Chúng ta thật bất hiếu với song thân! Chỉ biết lo cho sự nghiệp đời thường mà quẳng bỏ biết bao nhiêu ân tình sâu đậm cha mẹ sinh thành dưỡng dục. Vì con người sống ở đời thì cha-mẹ chính là người thân tín nhất, không có cha thì không ai sanh ra ta, không có mẹ thì không ai nuôi dưỡng ta, như trong kinh Ân Trọng đức Phật dạy:“Nhân sinh tại thế, phụ mẫu vi thân, phi phụ bất sanh, phi mẫu bất dục.” Dù cho cha-mẹ sanh bao nhiêu người con, nhưng đến khi hữu sự, hoặc đại nạn lâm đầu thì cha-mẹ là người đau xót nhất, là người đầu tiên xả thân để cứu vớt từng đứa con của mình trước nhất, lúc ốm đau, khi bệnh tật, đó chính là bản năng che chở con cái, như khi diều hâu sà xuống gắp đàn gà con, thì gà mẹ vội vàng dang rộng đôi cánh của mình để đùm bọc đàn gà bé nhỏ, bất chấp sự sống còn. Cho nên, người con nào không làm vui lòng cha mẹ, để gọi là tạm đáp đền ơn nghĩa sinh thành ở thế gian, thì người con đó chưa biết đến Hiếu-đạo, chưa biết đến Hiếu-đạo tức là chưa biết cách tạo lập sự nghiệp, chưa biết cách tạo lập sự nghiệp thì chưa định được sách lược tu thân, sách lược tu thân không có, thì nói chi đến “Tề gia, trị quốc, bình thiên hạ!” Mà sách lược tu thân hiệu quả nhất chính là “Hiếu dưỡng phụ mẫu, phụng sự sư trưởng.” Hiếu dưỡng phụ mẫu là hiểu được lý tưởng của cha-mẹ, lý tưởng của cha-mẹ chính là những tâm tư nguyện vọng mong muốn con mình trở thành những người thành đạt, có đức có tài làm lợi ích cho bản thân, cho gia đình, đem hạnh phúc cho những người xung quanh... Đó chính là niềm vui đích thực mà người làm cha, làm mẹ mong cầu. Cho nên, những ai muốn báo đền công ơn sinh thành dưỡng dục của cha-mẹ, mà quên đi trách nhiệm trau dồi nhân cách, thành tựu sự nghiệp cho bản thân mình thì đó là điều thiếu sót! Hơn nữa, Cổ đức từng nói:“Nuôi gà, nuôi chó cũng là nuôi, nuôi cha-mẹ mà không kính trọng cha-mẹ thì khác chi nuôi gà nuôi chó.” Vì thế, thái độ phụng dưỡng của người con dành cho cha mẹ thì sự kính trọng đặt hàng đầu.
Bản kinh Địa Tạng khuyến khích mọi người làm tròn trách nhiệm của người con chí hiếu dành cho cha-mẹ của chính mình, một khi lâm cảnh “Hiên trước vắng cha, nhà sau vắng mẹ.” Đến lúc này, những người con đang được sống trong tình thương chở che của cha-mẹ, không khỏi rơi lệ bàng hoàng, vì họ đã mất đi người thân tín nhất, không bao giờ nghe thấy tiếng cha hỏi thăm con những lúc con cái đi xa, mãi mãi không bao giờ nhìn thấy hình bóng thiêng liêng nhất của người mẹ, tựa cửa chờ con khi người con hờ hững mải lo công việc quên ngày thăm mẹ. Tiếng cha không được nghe, bóng mẹ tìm đâu thấy! Những lúc như thế, mới đánh thức được trái tim thờ ơ của những người con lạnh nhạt với cha-mẹ thuở bình sinh, khi có người thân mất thì mỗi người mới thấy được nỗi đau thương, mới thấy được giá trị thiên cổ của mẹ-cha dành cho con cái. Vạn lời không thể nói, muôn lễ chẳng thể bày, nước mắt cứ trào tuôn, tiễn biệt ân tình trọng. Ôi! Xót xa thay khi cha già khuất bóng! Ảm đạm thay khi ảnh mẹ lìa trần! Bỏ con thơ trôi dạt giữa biển đời, bao giông tố thiếu tình thân đùm bọc! Đến đây, để tỏ chút lòng thành chí hiếu, mỗi người con không phân biệt tôn giáo, đều hướng về những cõi tâm linh, nguyện cầu cho cha mẹ mình được thác sanh về chốn An-lạc. Chốn An-lạc ấy, chúng ta được nghe quý thầy giảng, chính là cõi nước Cực Lạc mà đức Phật Thích Ca tự thuyết trong kinh A Di Đà, do đức Phật A Di Đà làm giáo chủ cách thế giới Ta Bà “Thập vạn ức Phật độ” (Cách mười vạn triệu quốc độ Phật), cùng tầng thứ mười ba trong Hoa Tạng thế giới, do đức Phật Tỳ Lô Giá Na làm giáo chủ. Tiếp dẫn hương linh người mất trong sáu đường là một trong Bốn mươi tám thệ nguyện của đức Phật A Di Đà, dưới Địa Ngục thì có Ngài Địa Tạng Bồ-tát phát đại nguyện “Chúng sanh độ tận phương chứng Bồ-đề, Địa-ngục vị không thệ bất thành Phật!” Như vậy, đạo Phật là biểu tượng hàng đầu về Hiếu hạnh, một nền tảng Hiếu-đạo trọn vẹn tuyệt vời nhất. Vì sao? Vì khi còn sống đức Phật đại diện cho hình ảnh người cha lành của muôn loài, dẫn giải cho chúng ta hiểu được ân sâu nghĩa nặng của cha-mẹ qua kinh Vu Lan, không chỉ cha-mẹ một đời một kiếp, mà có cả cha-mẹ nhiều đời nhiều kiếp, cho nên, dẫu trải nhiều đời kiếp vẫn không thể nào báo đáp tận thâm ân.
Hiếu đạo là gốc rễ của vũ trụ, là nền tảng tạo nên sự nghiệp lớn trong xã hội, là động cơ thúc đẩy quốc gia hưng thịnh, là kỷ cương giữ hòa bình cho nhân loại.
Công ơn sanh thành là thế ấy! Không thể dùng ngôn từ để diễn bày, như trong kinh văn ẩn dụ: “Dù người con chí hiếu nào, lên rừng sâu chặt hết cây làm bút, xuống biển lớn múc hết nước làm mực, viết về công ơn sinh thành dưỡng dục của cha-mẹ, cũng không bao giờ chép tận.”
Hiếu với cha-mẹ là trách nhiệm của người làm con. Hiếu cũng không kém phần quan trọng với “Tôn sư” Vì Cha mẹ nuôi ta khôn lớn, Thầy Tổ dạy ta nên người, như Ca-dao thường nói:
“Muốn sang thì bắc cầu Kiều,
Muốn con hay chữ thì yêu lấy Thầy.”
Chắc mỗi người trong cuộc sống đều mang những kỷ niệm về người thầy sâu đậm nhất trong cuộc đời mình. Sau nhiều năm thăng trầm, có lẽ nhờ “Tam sinh hữu hạnh” nên tôi mới được cửu trụ nơi ngôi Già-lam Kỳ Viên Trung Nghĩa Tự, và vị thầy đã giáo dưỡng tôi cùng chư huynh đệ trong nhiều năm tháng khó khăn, đó chính là ân sư Thích Trí Viên. Thầy chính là tấm gương đầy chuẩn mực về lý tưởng và nhân cách, đọc rộng nghe nhiều, trí tuệ uyên thâm, không những uy nghiêm trong việc giáo dưỡng đệ tử, mà còn hòa nhã vui tươi với đại chúng. Thầy tôi chỉ ấp ủ một lý tưởng duy nhất, đó chính là “Lý tưởng độ sanh.” Cho nên, tâm nguyện lớn nhất của Thầy là nuôi dạy các đệ tử mình thành tài, để tiếp nối con đường hoằng hóa chánh pháp, phổ độ chúng sanh của chư Phật. Mà hình ảnh mô phạm ấn tượng nhất về gương Hiếu học của Thầy và các sư huynh đệ đồng môn ở Chùa Hải Đức, tôi được nghe thầy kể:“Về đêm khuya, khi tới giờ đi ngủ, vì sợ gây ảnh hưởng môn quy, nên thầy cùng đồng môn rủ nhau vào nhà vệ sinh lót ván ngồi học, đến khi thuộc bài vở trong ngày mới thôi!” Hay thời còn làm Tăng sinh, có lần đến dịp Tết, ai cũng được về nhà viếng thăm cha-mẹ, thân cận xóm làng, nhưng nhà Thầy lúc đó mãi tận Bình-định, đường xa chập chùng, điều kiện không có, nên cất ngăn niềm vui vì không có cơ hội về thăm quê cha đất tổ, đành ở lại viện tranh thủ giờ rảnh học chữ Hán và nghiên cứu thêm kinh sách. Hoặc lúc Thầy Huệ Giáo chuẩn bị du học nước ngoài, thì trong những bữa cơm, thầy thường căn dặn: “Thầy trò chúng ta thà thiếu gạo cơm chứ đừng để thiếu chữ, thà phơi xương ở ngoại quốc chứ không nên bỏ học giữa chừng mà trở về!”
Với tinh thần ham học vì lý tưởng độ sanh của thầy, chính là nền tảng giáo dục vững chắc cho chúng con thành đạt, và tấm gương tiêu biểu cho tuổi trẻ ngày nay. Vì thế, những đệ tử nghe theo di huấn của thầy đều đạt học vị cao trong xã hội và trong Phật pháp. Nhờ tâm nguyện lớn ấy, nên chúng con cố gắng đem hết khả năng tri thức qua nhiều năm tháng nỗ lực tu học, dốc lòng tiếp nối sự nghiệp Thầy-tổ, để không phụ hoài bão “Hoằng dương chánh pháp” của chư vị Tổ-sư mà thầy trực tiếp truyền đạt. Thiết nghĩ, đó cũng chính là tỏ chút lòng thành Hiếu kính với Thầy-tổ.
Mùa Vu Lan lại đến! Không khí báo hiếu ngập tràn, hàng triệu trái tim của những người con chí hiếu, đều không khỏi nôn nao hướng về ngày đại lễ, mong bày tỏ chút lòng thành kính, tri ân sâu sắc đối với những bậc sinh thành dưỡng dục mà đức Thích Ca đã chỉ dạy.
Để tỏ lòng thành hiếu kính với đấng cha lành nhân loại, hàng triệu trái tim của những người con chí hiếu, đều hướng về đại lễ “Cứu Đảo Huyền”. Với tâm chí thành cầu nguyện cho Cha-mẹ hiện tiền, phước huệ tăng long, thọ mệnh diên trường, Thầy-tổ trong mười phương đều được Phật lực hộ trì, pháp thể khinh an, chúng sanh dị độ. Còn “Cửu huyền thất tổ” và chư tiên linh trong mười cõi Pháp đều được chư Phật thùy từ, oai quang phổ bị, siêu sanh Tịnh-giới, gặp Phật nghe Pháp. Giờ đây, tất cả những trái tim thành kính đều hướng về tưởng niệm công đức vô lượng của đức Phật. Nguyện khắc ghi từ huấn của Phật:
“Sát trần tâm niệm khả sổ tri
Đại hải trung thủy khả ẩm tận
Hư không khả lượng phong khả kế
Vô năng thuyết tận Phật công đức!”
Tạm dịch: (Tâm niệm nhiều vô lượng có thể tính đếm được; Nước trong bốn biển lớn có thể uống cạn sạch, Hư không có thể lường và gió có thể đo tính; Nhưng không thể nào nói tận hết công đức của Thế-tôn!”
Ơn nghĩa sanh thành của cha mẹ là như thế!
Ân tình giáo dưỡng của Thầy-tổ là như thế!
Công đức thuyết Pháp độ sanh của chư Phật là như thế!
Không thể nói, không thể suy, không thể bàn, không thể nghĩ bàn! Cho nên, công việc“Hoằng dương chánh Pháp” mà chư Tổ đã hi sinh biết bao tâm huyết phát huy qua nhiều triều đại, thì trách nhiệm của tất cả người con Phật đối với lý tưởng “Tục Phật Huệ Mệnh, Thừa Như Lai Sự” liệu có được xương minh không? Đó còn tùy thuộc vào tất cả những tấm lòng Hiếu kính của chúng sanh đối với Phật Tổ!





6
3020
92287
