Phật Đản ngày hạnh phúc nhất cho nhân loại

Tác giả: Nguyên Tâm

Bảy đóa sen vàng nâng gót ngọc

Đón mừng Bồ tát xuống trần gian.

Vườn Lâm chợt thấy hoa Đàm nở

Muôn vạn tâm vui trỗi nhịp đàn.


Lại một lần nữa hoa sen nở rộ đón mừng ngày Đấng Giác Ngộ toàn năng, toàn trí, toàn đức ra đời, phá tan màn vô minh từ vô lượng kiếp của chúng sanh, đem lại hạnh phúc, an vui cho nhân loại. Chúng ta tổ chức kỷ niệm ngày Đản Sanh của Đức Phật, ngày lịch sử trọng đại và thiêng liêng này để báo Phật ân đức, cũng như thực hiện lời di huấn tối hậu của bậc Giác Ngộ “Vì đại sự nhân duyên mà thị hiện để khai thị chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến”.

Quả thật, Đức Phật thị hiện giữa cõi đời không ngoài mục đích nhằm đáp ứng nguyện vọng giải thoát khổ đau của nhân loại. Ngài đích thực là một con người được kết tinh bởi những chất liệu của con người siêu xuất. Là một vị Hoàng tử của xứ Ấn Độ thời bấy giờ, sống trong cung vàng điện ngọc, cung phi mỹ nữ ca múa ngày đêm, nhưng Ngài đã ý thức rằng đó không phải là hạnh phúc thật sự của cuộc đời. Hạnh phúc thực sự của con người là thoát ly mọi khổ đau, không tranh chấp, không hận thù, sống chan hòa trong niềm cảm thông chân chính. Từ nhận thức đó, Ngài đã tạo nên một sự thay đổi lớn lao trong đời sống, tư tưởng con người và xã hội Ấn Độ. Ngài không chấp nhận những tư tưởng lưu hành đương thời. Trong xã hội, có người thì luôn nhìn đời bằng đôi mắt lạc quan; Người thì chủ trương sống để hưởng thụ khoái lạc, một số lại nhìn đời trong bi quan và tuyệt vọng, và luôn hành hạ thân xác mình. Đức Phật dạy cả hai cực đoan khổ hạnh và hưởng thụ khoái lạc đều hoàn toàn sai lầm phải từ bỏ. Ngài đưa ra con đường lý tưởng “Trung Đạo”. “Tứ Diệu Đế” là bài pháp đầu tiên sau khi Ngài thành đạo, Ngài khuyên tất cả chúng sanh hãy tích cực tìm hiểu, tu tập Tứ Diệu Đế.

Từ đó suốt 45 năm thuyết pháp, Ngài không dạy chi khác ngoài căn bản là Tứ Diệu Đế. Vì Tứ Diệu Đế là nền tảng đạo đức, cũng là nấc thang bước lên sự giải thoát. Nên bất cứ người tại gia hay xuất gia thì cũng lấy Tứ Diệu Đế làm căn bản cho toàn bộ tư tưởng tu học của mình. Tất cả mọi tư tưởng khác đều bắt nguồn, đâm chồi, đơm hoa, kết trái từ chân lý này. Ngài dạy bốn chân lý trong cuộc đời này là sự thật hiển nhiên được bậc Thánh nhơn giác ngộ phát minh nên gọi là “Tứ Thánh Đế”.

Với Tứ Diệu Đế, Đức Phật luôn dựa trên luật nhân quả để trình bày, vì thế gian luôn luôn tồn tại trên căn bản đối đãi có thiện ác, tốt xấu, phải trái nên Ngài dựa vào đó mà sắp xếp Tứ Diệu Đế thành hai phần đối nhau, một mặt tốt và một mặt xấu. Mặt xấu là thực trạng của con người sống trong sự đau khổ và cũng là nguyên nhân gây nên mọi sự đau khổ hay Khổ Đế và Tập Đế thuộc nhân quả thế gian. Mặt tốt là trạng thái an lạc “Diệt Đế và Đạo Đế” thuộc nhân quả xuất thế gian.

Như vậy, với ý tưởng này chúng ta sẽ hiểu đối tượng chính trong đạo Phật nhắm đến là con người. Đã là con người thì ai cũng có điểm tốt và diểm xấu. Nhưng Đức Phật dạy mọi sự tốt xấu, thiện ác, phàm-Thánh, chúng sanh hay Phật đều do con người quyết định, không có ai quyết định thay được, “Không ai làm cho ta ô nhiễm, không ai làm cho ta trong sạch”. Con người chúng ta có thể quyết định tới sự an lạc hay khổ đau, sự giải thoát giác ngộ khác nhau còn tùy theo vô minh, phiền não diệt trừ được nhiều hay ít.

Trước quan niệm rằng thế gian này không có gì ngoài đau khổ, dù có hạnh phúc đi chăng nữa cũng đều kết thúc bằng mọi sự khổ đau, đó là một trong những định đề của đạo Phật. Vì thế nên có nhiều người cho rằng đạo Phật là đạo bi quan, tiêu cực, đó là nhận định và suy đoán thiếu chuẩn xác. Nhưng Đức Phật đã thuyết minh cho chúng ta một cách xác thực rằng cuộc đời là một tràng nối tiếp đau khổ, khoái lạc. Trong khoái lạc đã hàm chứa nhân đau khổ và ngược lại cứ như thế mà luân chuyển nối tiếp nhau không ngừng nghỉ. Không hề có hạnh phúc thực sự trường tồn. Chữ khổ trong phần chân lý Khổ Đế không đơn thuần là một nghĩa theo sự thông thường mà nó còn phải được hiểu qua Vô thường, Khổ, Không, Vô Ngã. Đức Phật đã chỉ rõ cái khổ gồm những nỗi khổ cơ bản mà con người phải gánh chịu như Sanh, Già, Bệnh, Chết và những nỗi khổ Sầu bi khổ não, Oán thù tụ hội, Thương yêu biệt ly, Mong cầu không được. Từ những hình thức đau khổ về vật chất hay tâm lý của tám sự khổ tiến đến ba cái khổ là Khổ khổ, Hoại khổ, Hành khổ. Với Hoại khổ là những hình thức đau khổ do sự thay đổi của cuộc sống trong từng sát na gây ra. Hành khổ là hình thức đau khổ do không nhận biết được trạng thái và phương hướng biến chuyển vận hành của sự vật luôn theo định luật thời gian và không gian. Quan niệm tất cả chúng sanh đều ở trong bể khổ không phải là một nhận thức tình cảm ủy mỵ hay một lời than vãn mà là một chân lý mà Khổ Đế nhìn thông suốt tận cội gốc của đời sống ngắn ngủi con người, chỉ là một trong giai đoạn sống chết dài lâu sâu thẳm của chúng sanh. Chỉ có Bậc toàn năng, toàn giác mới có trí tuệ tối thắng và tình thương bao la mới thấy được những khổ đau sâu xa bên trong của tất cả chúng sanh có tính cách trừu tượng như vậy.

Từ những hiện trạng khổ đau được thể hiện dưới nhiều hình thức, Đức Phật đã giải thích cho chúng ta về nguyên nhân đưa đến mọi đau khổ là do Ái dục và Vô minh tà kiến. Trên bước đường tu tập, chúng ta muốn diệt sạch đau khổ, Đức Phật dạy chúng ta phải thực hành “Bát Chánh Đạo” để loại trừ những nhận thức sai lầm, gạt bỏ tham ái và dục vọng, ích kỷ để trở thành một người sáng suốt, xử lý đúng đắn hợp tình hợp lý trong mối quan hệ giữa ta và người cũng như giữa ta và xã hội. Bát Chánh Đạo không ngoài mục đích đem lại sự tu tập và phát triển Giới - Định - Tuệ.

Trong quá trình tu học Giới - Định - Tuệ chúng ta loại bỏ dần những hành động bắt nguồn từ Tham, Sân, Si - chuyển đổi tâm ác xấu gây phiền não đau khổ cho mình cho người thành tâm thiện, đem lại hạnh phúc và an lạc, giải thoát cho mình và tha nhân. Nói chung lại Tứ Diệu Đế đã được mọi hệ phái trong Phật giáo chấp nhận và hiện xem đó là pháp môn chính, là nền tảng căn bản. Các hệ phái Phật giáo phát triển lâu nay luôn đề cấp trên tinh thần “Thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh” đã y giáo phụng hành mà triển khai thành Bốn hoằng thệ nguyện, từ Khổ đế chuyển thành lời thệ nguyện thứ nhất “Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ”. Từ Tập đế chuyển thành lời nguyện thứ hai và Đạo đế chuyển thành lời nguyện thứ ba, Diệt đế thành lời nguyện thứ tư.

“Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ

Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn

Pháp môn vô lượng thệ nguyện học

Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành.”

Đây là bốn lời thệ nguyện căn bản của các chư vị Bồ tát. Mỗi lời phát nguyện của chư Bồ tát đều xuất phát từ tình thương chân thật của Ngài đối với chúng sanh. Khi Bồ tát phát khởi lên tâm nguyện chí thành với chư Phật sẽ tạo thành năng lực mạnh mẽ giúp cho Bồ tát tiến tu không thối chuyển, quyết lòng thực hiện mục đích cao đẹp cho mình. Những lời thệ nguyện ấy luôn hướng về chúng sanh. Trong khi hàng Thanh Văn tu tập quán sát Khổ đế thấy cuộc đời là Vô thường, Khổ, Không, Vô ngã nên các Ngài từ bỏ tất cả để đi đến con đường giải thoát. Ngược lại Bồ tát tuy quán sát cuộc đời là Thường, Khổ nhưng các Ngài không từ bỏ, và càng dấn thân vào đời. Các Ngài có bỏ chăng cũng là sự tham đắm, vọng tưởng, chấp trước, ngã mạn. Vì các Ngài nhận định biết được cuộc sống Vô thường, Vô ngã cùng mọi sự khổ đau của chúng sanh. Nhưng cũng từ chỗ ô trược của cõi Ta bà này, từ những cảnh đau khổ ấy, mà các Ngài đơm bông kết trái thành đạo quả.

Ngày nay bước theo dấu chân Phật, mọi tình thương ấy vừa được chớm nở trong tâm hồn của chúng ta đã tạo thành ý thức quyết chí của tất cả người con Phật. Tình thương này được thể hiện thành những hành động cụ thể nhằm nâng cao đời sống của mọi người, mong cho mọi người được hạnh phúc an lạc. Dù cho chúng ta tu học giỏi đến đâu mà không giúp đỡ những người liên hệ trưởng thành thì khó mà thành tựu đạo quả. Vì vậy trong kinh Hoa Nghiêm đức Phật dạy: Quả Bồ đề thuộc về chúng sanh, lìa chúng sanh thì không có Phật, cũng như hoa sen không nở ngoài bùn. Từ đó Ngài Phổ Hiền luôn dạy chúng ta: “Hãy lấy nước Từ bi tưới mát cho chúng sanh, cây Bồ đề đó sẽ trổ hoa Bồ tát và quả Như Lai”.

Nhờ những tiếp cận đó mà chúng ta nhận ra bản tánh chân thật của tự thân mình để loại trừ những nghiệp chướng, để tinh tấn tu dưỡng một ngày một tốt đẹp hơn. Tuy nhiên chúng ta hiểu và ý thức sâu sắc rằng hạnh phúc an lạc của chúng ta không thể tách rời được hạnh phúc chung cho xã hội. Đức Phật dạy rằng: Trên thế gian này muôn sự muôn vật đều có tương quan chặt chẽ với nhau. Chúng ta nhận thấy rằng hạnh phúc an lạc là tùy thuộc vào sự tu tập của mỗi người, nhưng nó cũng chịu mọi sự chi phối và tác động của mọi người xung quanh, của môi trường xã hội. Trong xã hội còn nhiều hiện tượng tiêu cực, thì hạnh phúc an lạc của mỗi chúng ta còn hạn chế, cho nên muốn đoạn trừ được phiền não, ngoài việc thanh tịnh hóa cho mình, chúng ta còn phải cải hóa những điều tồn đọng xấu ác của tha nhân, khắc phục mọi tánh tham, sân, si tạo thuận lợi tốt đẹp. Đức Phật dạy chúng ta là mọi tánh hằng hữu không có thiện hay ác. Tốt hay xấu đều tùy thuộc vào hành động, lời nói, suy nghĩ của ta, nên ta không thể để tâm mình dị kiến có ác niệm tạo thành phiền não, để bụi trần dày đặc che lấp chân tâm của mình.

Ý thức được như vậy mỗi chúng ta cần phải cố gắng, lấy Tam vô lậu học làm nền tảng căn bản cho mình để phát huy trí tuệ triệt để, vì đó vốn liếng quý giá muôn đời, giúp chúng ta vượt qua cánh cửa luân hồi.

Học, không có nghĩa là chúng ta lặp lại lời y khuôn của các bậc Thiện tri thức hay học thuộc lòng, đó chỉ là phương tiện mà đức Phật và các bậc chân tu đưa ra để chúng ta nương theo. “Tu không học như xe không bánh, Học không tu Phật tánh lu mờ. Tu không học như đèn không tỏ, Học không tu như ngựa vô cương”. Đó là nền móng căn bản cho mọi chánh kiến. Một cuộc sống ứng xử tốt đẹp phù hợp với mọi quy luật thực tại của thiên nhiên và xã hội ngõ hầu mang lại lợi ích cho bản thân mình và mọi người. Theo Kinh Duy Ma thì: lòng người có sáng có tối, lúc vui lúc buồn, nhưng tính chất của ánh sáng không bao giờ thay đổi. Khi ánh sáng tới đâu thì nơi đó bóng tối lui mất. Cũng vậy, Phật và chư Bồ tát hiện hữu trong cõi đời này, làm đẹp cuộc đời bao nhiêu, thì bản chất giác ngộ của các Ngài cũng không vì điều đó mà thay đổi. Bồ tát sống trong cõi đời này giống như mọi người nhưng tư duy, hành động, cách sống, cách tu của Ngài là biểu tượng khuôn mẫu, là mô phạm, đạo đức trong sạch cho mọi chúng sanh noi theo. Bồ tát không bỏ Vô vi cũng không trụ Hữu vi. Đó chính là hình tượng của Đấng Từ Phụ Thích Ca Mâu Ni đã tìm thấy đóa hoa chân lý ngay trong sanh tử - giải thoát ngay trong cuộc đời, không phải ở thế giới Niết bàn xa xăm nào.

Trong 45 năm thuyết pháp hóa độ chúng sanh, đức Phật luôn đến với mọi tầng lớp xã hội trong mọi hoàn cảnh thuận nghịch khác nhau đều mang lại lợi lạc cho tất cả chúng sanh mà Ngài vẫn không rời bản vị giải thoát.

Trên bước đường Thượng cầu Phật đạo, Hạ hóa chúng sanh, mỗi người chúng ta nối gót theo dấu chân Ngài và chư vị tiền bối tiếp tục soi sáng bước đi vun đắp tình thương cao cả, hành động thiết thực vì cuộc sống nhân sanh bằng những giúp đỡ chân thành, vô tư cho một cuộc sống vật chất sung mãn. Cùng phát huy trí tuệ cho mọi người sống lành mạnh trong ánh sáng hướng thượng, cũng như nỗ lực đóng góp vào xã hội, an vui cho nhân loại. Mọi cố gắng dựng xây một Niết bàn Tịnh lạc trên hành tinh này là đóa hoa lòng tinh khiết chúng ta thành kính dâng lên cúng dường Đức Từ Phụ nhân ngày Khánh Đản - Phật lịch 2553.

Trang Ảnh

Pháp Âm

Thống kê

Hiện có 2 khách đang trực tuyến

6

3020

92287

 

Âm lịch

Copyright @ 2009-2010 Chùa Kỳ Viên Trung Nghĩa
132 Sinh Trung, Nha Trang, Khánh Hòa, Việt Nam
Điện thoại: +84.58.3827197; 3500252
Cố Vấn: Hòa Thượng Thích Trí Viên | Biên Tập: ĐĐ. Thích Huệ Pháp
Thư điện tử xin gởi về: huephap@gmail.com
Ghi rõ địa chỉ nguồn "kyvientrungnghia.com" khi đăng lại từ trang web này