Chiều nay, sau khi in bản thảo, làm bìa và đóng thành cuốn tập sách Thập Bát La Hán, tôi nhờ con dâu chở đến Kỳ Viên để trình sách lên Thầy trú trì. Như những lần trước, sau khi một mạch bước 94 bậc cấp (lúc tam cấp chưa sửa chỉ có 92 bậc), đến phòng khách của Thầy trú trì, trình bản vi tính lên Thầy là tôi lăn ra sàn nhà nằm thở. Tôi vẫn hay như vậy mỗi khi đến chùa Kỳ Viên là nằm trên ghế đá… hay nằm trên sàn Tăng phòng của thầy Huệ Khánh, Huệ Giáo hay Thầy trú trì để thở dốc cho đỡ mệt. Với cái tuổi gần 60, những hăng hái vẫn còn sung mãn nhưng quả thật là lên đến đỉnh “Bạch Tượng quyện hồ” này mà cứ một lèo thì thật muốn đứt hơi!
Trong một cuốn băng giảng của quý Thầy, tôi nghe kể câu chuyện như sau: Một bà cụ trên 80 ngày ngày đến chùa lạy Phật, Chùa nằm trên một ngọn núi cao và cũng là một danh thắng nên Phật tử, khách hành hương đến lễ bái và khách viễn phương nhàn du thưởng ngoạn cũng nhiều. Bà cụ cứ từ từ bước lên từng tam cấp, miệng niệm “A-Di-Đà Phật, phẻ quá! phẻ quá!”, cứ thế bà chậm rãi từng bước và lên tới đỉnh trước những thanh niên đang còn thở hổn hễn sau những hăng hái ban đầu. Đây là một bài pháp ẩn dụ mà chúng ta dễ nhận biết đối với những người có tín tâm. Có những Phật tử đến với Tam Bảo hệt như đầu voi đuôi chuột, lúc đầu tín tâm xem Tam Bảo như một vị thần linh có thể hóa giải những nghịch cảnh của mình, nhưng sau đó tín tâm trở thành thối tâm, thậm chí có khi đến vài ba năm hay khi hữu sự mới đến chùa lạy Phật một lần. Nhưng đối với bà cụ 80 tuổi kia, đến Tam Bảo như một mạch sống thuần nhất, duy nhất với câu niệm A-Di-Đà Phật theo mỗi bước chân. Phải chăng đây là một triết lý sống cho người con Phật khi đến ngôi Phạm Vũ.
Cũng không dễ gì mà chúng ta đến với Tam Bảo dù đã quy y Tam Bảo. Tôi là anh cùa 7 đứa em tất cả đều được mẹ dẫn đến chùa Hải Đức quy y Tam Bảo và được Ôn Trí Thủ truyền giới. Bây giờ đã gần 60 và các em đứa nhỏ nhất cũng đã hơn bốn mươi, nhưng ý nghĩa một câu niệm Nam mô A-Di-Đà Phật cũng chưa hiểu huống chi là đến chùa lạy Phật. Chỉ trừ thằng em thứ năm, sau khi bị cuộc đời làm cho tơi tả mới đến chùa như tìm cho một một chỗ chở che để tiến bước trên đường đời. Đến chùa với những cầu mong ban phước trong thâm tâm thì rất dễ thoái chuyển nếu không hiểu được giáo lý của Phật Đà.
Nói như vậy nhưng đã quy y Tam Bảo rồi, tất cả chúng ta đều là con của Phật, dù có trôi lăn mãi trong sáu đường nhưng sớm muộn gì cũng mang họ Thích của đấng Từ Phụ Thích-Ca Mâu-Ni.
Năm 15 tuổi tôi vào Trung học Bồ Đề, một phần là do cha muốn tôi học trường Phật giáo để kìm hãm tính sôi động của tuổi thanh niên đang sắp bước vào đời. Lớp học của tôi năm mươi phần trăm là các Chú, các Tiểu, có vị còn để chỏm, tóc vắt mép tai như con gái. Quả thật, học Trường Bồ Đề thì không thể chọc phá được ai vì chung quanh chỉ toàn các Chú, các Tiểu và nữ sinh hiền lành như bông súng. Lúc ấy thầy Thích Phước Sơn là Hiệu trưởng, thầy Thích Giác Tuệ là giám học. Thầy Giác Tuệ là hung thần dữ tợn, đi đâu cũng kè kè cây roi mây dài và tôi là người bị lãnh lương của Thầy nhiều nhất. Sau những lần bị ăn roi, tôi tìm cách đối phó bằng cách luôn mặc 2 đến 3 quần sọt để roi vào mông bớt đau! Cái tuổi hiếu động phá phách của tôi thì mọi chốn mọi nơi đều không tha, và đối với chùa Long Sơn tôi phá phách nhiều nhất. Mỗi buổi học chiều, tôi thường đi sớm hơn thường lệ để vào chánh điện Long Sơn lạy Phật và “thỉnh” những trái cam trái bom Mỹ màu đỏ cam mà quân đội Đại Hàn mang đến chùa cúng Phật, hay trèo tường lấy nãi chuối đơm trên cái miếu nhỏ sau chùa. Có lần tôi nghe mọi người bảo: Trên trán của Kim Thân Phật Tổ có viên hồng ngọc to lắm! Thế là bất chấp hiểm nguy, dù việc xây dựng sắp hoàn thành vẫn còn giàn dáo, tôi cũng vào trong bụng Phật và leo lên đến tận cổ Ngài để tìm cách chiêm ngưỡng hồng ngọc của Phật! Nhưng nào có gì đâu, trên đỉnh Kim Thân chỉ có một bóng đèn đỏ hàng đêm rọi sáng cảnh báo cho những chiếc trực thăng bay đêm.
Tôi gieo duyên với Tam Bảo là như thế! Học trung học chung với Tăng (vì trong lớp có những vị trên đầu đã có ba chấm hương), với Tiểu, niệm Phật giờ giáo lý và phá phách Thiền môn. Năm học lớp 10, tôi xin cha mẹ xuất gia vì thích cuộc sống của các Tăng sinh học chung lớp, nhưng cha mẹ không đồng ý chỉ vì lý do “đầu của tôi là đầu cá trê”. Ba bảo: “Con thấy quý Thầy người nào cũng có cục đá sau đầu, vì vậy mới tu được! Còn đầu của con đâu có cục đá!”, tôi cũng tin như vậy! Sau này tôi mới hiểu ý của cha mẹ thật đơn giản, vì tôi là trưởng nam và sẽ là người đứng đầu của chi tộc”.
Lý do mà tôi xin xuất gia là vì tại Trung học Bồ Đề những năm ấy rất ít con trai. Tôi chỉ làm bạn với các Tăng sinh từ các tỉnh về học, trong số ấy thân nhất là chú Xem quê Lục Tỉnh. Ngày ngày đến trường từ sáng sớm và đến chiều tối mới về nhà. Buổi trưa tôi ở lại phòng các Tăng sinh (việc ăn trưa thì chú Xem lo! Chú mang bình bát vào nhà trù lấy cơm về cho tôi dùng). Đến chiều tan học tôi cùng các chú lên Kim Thân Phật Tổ, sau khi chuyện trò, chú Xem về Hải Đức còn tôi ở lại Kim Thân cho đến lúc thành phố bước vào đêm.
Nếu ai đã một lần đến Kim Thân Phật Tổ vào lúc hoàng hôn và rồi ngắm Nha Trang đi vào đêm mới thấy được vẻ đẹp của Nha Trang. Xa xa trên biển là một thành phố nổi với những ngọn đèn đánh cá giăng đầy mặt biển. Nha Trang dọc ngang đèn màu trắng, đỏ, xanh và những vệt đèn xe lấp lánh xuôi ngược trên các nẻo đường, Đức Phật vẫn nhìn chúng sanh và Từ bi trước cảnh huyên náo thị thành.
Ngày ấy Thầy Trí Viên cũng học chung trường và có năm học chung giờ nhưng tôi ít thân thiện, bởi lúc ấy Thầy là quản chúng Tăng sinh, nên vẻ mặt của Thầy nghiêm nghị hơi giống mật thám, lắm lúc Thầy đeo kính râm đen lại càng giống hơn! Thế rồi dòng đời trôi lăn, tôi rời ghế Trung Học Bồ Đề bước vào dòng đời lên xuống đổi thay. Mãi 30 năm sau tôi mới quay lại với ngôi Tam Bảo để tìm hiểu về số phận cuộc đời mình sau khi đã suy nghĩ, nghiên cứu Kinh Dịch, Tướng số, Tử vi, Tử bình, Tứ trụ, Bốc phệ… kể cả Mai Hoa Độn Giáp, nhưng tất cả đều không có lời giải thích nào thỏa mãn với những vấn đề mà tôi suy nghĩ. Trong các sách Tướng số hay Tử vi có những việc không giải thích được thì họ cho là “Đức thắng số”. Số mạng con người nằm trong vòng ngày, giờ, tuổi, nơi sanh, tương sanh, tương khắc, tuổi tác hợp với người phối ngẫu hay con cái. Có những người xin xăm thấy mình được quẻ xăm tốt thì bất chấp cả sai trái, họ lao đầu với tin tưởng xăm tốt mọi việc sẽ thành công. Cũng vậy, với những quẻ xăm “hạ hạ” thì họ nhụt chí chẳng dám làm gì, đi đâu vì sợ những điều không may xảy đến.
Đặc biệt, chùa Kỳ Viên việc xem ngày giờ tuổi tác thì các Thầy không hề quan tâm, bởi: ngày nào cũng là ngày của Phật và giờ nào cũng là giờ của Phật. Do vậy sắp xếp ngày giờ và thời gian thuận tiện cho việc Phật sự hay hữu sự của Phật tử đều là tốt. Điều ấy cũng rất hay nhưng đối với những Phật tử thuần thành, tín tâm Phật pháp, còn những đoạn nước chà hai (nửa mặn, nửa ngọt), nửa chùa nửa am, miếu đồng bóng thì khó chấp nhận.
Năm 2000, tôi gặp lại Bình (trước đây là Ngô Thế Minh), một người bạn thành công trong cuộc sống. Bình và vợ kể cho tôi cuộc đời thăng trầm trong làm ăn và sự tín tâm của vợ chồng vào việc niệm Chú Đại Bi và trì kinh Pháp Hoa để hóa giải mọi chướng ngại. Vợ Bình tặng tôi một cuốn kinh Pháp Hoa. Bình đưa tôi đến các Tịnh Xá mà lúc nầy Bình đang cúng dường xây cất và hỗ trợ chư Tăng. Bình giải thích: Chúng ta cúng dường tài thí vào chùa thì sẽ không mất, cũng giống như mình đem những hạt lúa gieo vào ruộng, sau này sẽ thu hoạch được gấp trăm lần. Tôi tin theo lời Bình và về nhà bắt đầu tụng Chú Đại Bi, phải tụng đến 3000 lần tôi mới thuộc được vì Chú Đại Bi là rất khó học thuộc, khó đọc thông suốt. Và tôi cũng “đọc” Kinh Pháp Hoa mặc dù không hiểu được tí gì, với mong ước nhờ Chú Đại Bi và Kinh Pháp Hoa sẽ mang lại cho tôi những thuận lợi trong cuộc sống. Nhưng sự thật tôi đến chùa Hội Phước tụng kinh Pháp Hoa và ngày ngày niệm Chú Đại Bi cuộc sống tôi đến giờ vẫn không thay đổi. Ấy vậy mà sự mầu nhiệm đổi thay đã đến mà sau này tôi mới nhận diện được: đó là An Lạc trong cuộc sống.
Thật ra tôi được nhiều duyên lành hơn những bạn đồng học Bồ đề năm xưa. Một số bạn học chung lớp Tứ một, Tứ hai sau khi thành đạt trong cuộc sống có ý muốn quy tụ bạn học trong phạm vi Tứ một Tứ hai của những năm 69, 70 thành nhóm Cựu Học Sinh Bồ Đề, tôi được chọn làm lớp trưởng vì có công sức quy tụ bạn bè, Thầy Trí Viên được bầu làm Lớp Trưởng danh dự. Đến lúc này chúng tôi tổ chức họp mặt tại Chùa Kỳ Viên. Sau mấy mươi năm tất bật trong cuộc sống, có đứa thành công như Ngọc, Thành, Bình, Út thần v.v... và cũng có đứa thất bại như tôi, Phúc... Trong buổi họp mặt chúc mừng Thầy Cô nhân Ngày Nhà Giáo tại chùa Kỳ Viên, Thầy Trí Viên đọc bài khai mạc, Thầy xúc động khóc vì công ơn thầy cô trong bao năm đã vun đắp kiến thức cho đám học trò chúng tôi mà đã bao năm chúng tôi chưa nói được một lời cảm tạ. Tất cả mọi người đều xúc động! Buổi gặp hôm đó cũng có những nỗi buồn man mác khi có vài bạn gái thưa: Thầy ơi! Đến nay con vẫn chưa lập gia đình! Và chúng tôi cùng nhau hàn huyên kể nhau nghe những buồn vui trong cuộc sống, tìm hỏi tin tức của những bạn không đến được hay ngậm ngùi nhớ đến các bạn tài hoa đã sớm ra đi...
Những học Tăng lớp Tứ một, Tứ hai không còn mấy người giữ được đời sống xuất gia. Thầy Trí Viên chùa Kỳ Viên Trung Nghĩa và Thầy Trừng Giác chùa Linh Phong, Tiên Du, Ninh Hòa là những hạt chắc còn lại trên sàn, còn những hạt lép kia đã bị gió đời cuốn muôn lối. Hai Thầy của tôi giờ đây đã là Thượng Tọa và là trú trì của những ngôi chùa nổi tiếng ở Khánh Hòa. Còn những học Tăng vào chùa để tránh chiến tranh, hoặc vì một lý do nào đó thì đã hoàn tục sau ngày đất nước thống nhất, một số có địa vị cao trong xã hội, còn một số vẫn lam lũ với chợ đời. Còn những học sinh gieo duyên Tam Bảo thì có Bình, tôi và một người con gái kiệt xuất của lớp là Hạnh Đạt (Hữu Lễ) đã xuất gia tại Thiền viện Thường Chiếu - Vũng Tàu, và bây giờ Hạnh Đạt cũng đã về với Phật. Nhưng tất cả những học Tăng năm xưa cởi áo ra đời mà tôi gặp lại hầu như kiến thức Phật học đã mai một, một số thậm chí không còn nhớ được thế nào là kiết sử hay ý nghĩa của lợi sử, độn sử, thế mới hay văn ôn võ luyện là vậy! Những học sinh năm xưa đạo mạo như ông cụ non, hiền lành như bông hồng đất (bông hồng không gai), thế sau bao năm vật vã với đời trở thành những người nhanh nhạy với thời cuộc.
Tôi đến với Thầy Trí Viên chùa Kỳ Viên Trung Nghĩa để tìm hiểu về Phật Pháp và mong rằng những vi diệu của Phật Pháp để có thể thay đổi được cuộc sống trần tục đầy khổ đau này của tôi hay không? Và thật hữu duyên, tôi được Thầy trực tiếp dạy Phật học.
Mỗi sáng sớm từ 5h30 tôi lên Chùa để học Pháp của Phật, từ quy y, nhân quả, luân hồi... vì lúc đó tôi chưa là học viên lớp Cư Sĩ Áo Lam. Tôi mượn Thầy một số sách trong ấy có bộ Phật học Phổ Thông của Ngài Thích Thiện Hoa về phô tô lại để học. Tuy nhiên không thể tự mình học được và ngày ngày tôi phải đến chùa để học. Có lần tôi hỏi Thầy: Chánh niệm là gì? Thầy giải thích cách đơn giản cho người không biết chữ Hán và các từ Phật học như tôi: - Cũng như con thắp một cây nhang, nếu con cắm cây nhang thẳng thì bóng của nó ở dưới chân nhang, và tàn nhang không rơi vãi ra ngoài bát. Cũng vậy, với những ý nghĩ chơn chánh thì con sẽ hướng hành động của thân, khẩu vào những việc làm chơn chánh.
Cứ thế, cứ thế... và duyên lành đến với tôi. Tôi được chị Hảo khuyên nên đi học Lớp Cư Sĩ Áo Lam, và quen với NT. Hôm ấy, tôi ngồi bán già trên ghế và đang vi tính lại bài của Phật học phổ thông (lúc này tôi đang làm thuê cho tiệm photocopy), NT. đến photo tài liệu, thấy tôi đang ngồi bán già, tay mang xâu chuỗi Kim Cang của Thầy Trí Viên cho và đánh bài trong PHPT. NT. nói: Anh đang đánh sách Phật mà ngồi xếp bằng giống như một ông thầy tu! Muốn tìm hiểu Phật Pháp anh hãy vào trang Web... Tôi trả lời, ở đây không có nối mạng, và tôi cũng không có thời gian để đến tiệm Net. NT. hỏi: Anh có đĩa CD về Phật Pháp không? - Không! - Tôi sẽ tặng anh một đĩa CD để anh tìm hiểu về đạo Phật. Kể từ ấy tôi xin vào học lớp Phật Pháp Cư Sĩ Áo Lam, vừa học Pháp mỗi ngày với Thầy Trí Viên, xem đĩa CD và vi tính giúp bạn để đưa sách Phật Giáo lên trang Web. Sau này, Thầy Huệ Giáo từ Thái Lan trở về và tôi được Thầy Huệ Giáo tiếp tục dạy môn Duy Thức học thay cho thầy Trí Viên.
Rồi thời gian cứ trôi đi, trôi đi... khái niệm về thời gian của tôi mất hẳn, cái khổ vật chất cũng không còn, mặc cho cuộc sống vật chất vẫn không đổi thay. Tôi tham gia vào công tác của lớp học Áo Lam, chùa Kỳ Viên giống như cơm ăn áo mặc. Cái an lạc đến với tôi mà tôi không nhận biết, cái khốn đốn về cuộc sống rời xa mà tôi cũng chẳng hay. Đầu tiên đến với Phật Pháp để tìm câu giải đáp: Vì sao cuộc đời tôi đầy trắc trở, khổ đau? Đến nay tôi tự nhận biết, hiểu và trả lời được với chính mình sau bao năm học Phật, đi vào rừng hoa Phật giáo đang khoe hương sắc. Mọi nghịch duyên, nghịch cảnh cuộc đời nếu nhận biết, khéo chuyển hóa sẽ làm cho cây hạnh phúc nở hoa.
Và tôi đến Kỳ Viên Trung Nghĩa thân quen như về nhà của mình, những bậc cấp hẹp rồi tỏa rộng đến cổng Tam Quan, một không gian lồng lộng thoáng đãng, những câu chào hỏi thâm tín bắt đầu bằng niệm danh hiệu Phật A-Di-Đà. Và tôi cùng ưu tư với Thầy Huệ Giáo về công việc bài vở Nội san chưa hoàn thành... cuộc sống vẫn trôi, mọi đổi thay vô thường vẫn đến nhưng quan trọng là tôi đã nhận diện được An Lạc sau bao năm tìm kiếm.





6
3020
92287
