- TU ĐẠO
Khi ấy, thành Phệ-xá-ly có một ngoại đạo, tên là Bạt Già Bà tiên nhân, cùng với các đệ tử tu khổ hạnh ở trong khu rừng Lam Ma, nhân đó Thái tử tìm đến hỏi đạo. Quán sát lối tu hành của các tiên nhân ấy, hoặc có người lấy cỏ làm áo, hoặc có người lấy lá cây, vỏ cây làm quần, hoặc có người chỉ ăn cây cỏ, hoa trái, hoặc có người mỗi ngày ăn một buổi, hoặc hai ngày ăn một buổi, hoặc ba ngày ăn một buổi, tu theo pháp tự làm đói mình như thế. Hoặc có người thờ nước, lửa, hoặc có người tôn thờ mặt trời, mặt trăng, hoặc có người đứng co một chân, hoặc có người nằm trên đất, hoặc có người nằm trên gai chích, hoặc có người nằm bên hông nước, lưả. Thái tử đã nhìn thấy những việc khổ hạnh như thế, liền hỏi thăm tiên nhân Bạt Già Bà:
“Nay các ông tu những hạnh khổ này, rất là kỳ quái, thế các ông muốn cầu được những quả báo gì?”
Bạt Già Bà đáp: “Vì chúng tôi muốn được sanh lên cõi trời.”
Thái tử lại hỏi: “
Thái tử và các tiên nhân nói về cuộc luận bàn này, trao đổi qua lại, cho đến xế chiều, nghỉ lại một đêm nơi khu rừng ấy. Đến lúc mờ sáng, Thái tử suy nghĩ về những việc các tiên nhân đã tu, đều chẳng phải là đạo giải thoát chân chánh, đành từ biệt ra đi. Thái tử vượt qua sông Hằng, từ thành Vương Xá vào trong vùng núi Di Lâu, đến chỗ của tiên nhân A La La, hỏi về pháp dứt trừ sanh, lão, bệnh, tử.
Tiên nhân đáp: “Ban đầu của chúng sanh, sơ khởi từ chỗ Vô minh, từ nơi Vô minh, sanh Ngã mạn, từ Ngã mạn sanh Nghi tâm, từ nơi Nghi tâm, sanh ra Nhiễm ái, từ nơi Nhiễm ái, sanh ra Năm loại khí vi trần, từ năm loại khí vi trần sanh ra Năm đại, từ nơi Năm đại sanh ra các phiền não như: Tham dục, Sân hận.v.v. Do đó lưu chuyển trong Sanh, già, bệnh, chết, đau xót, buồn lo, khổ, não.”
Thái tử hỏi tiếp: “Có những phương tiện nào dùng để dứt trừ được cội gốc sanh, tử đã nói?”
Tiên nhân đáp: “Nếu người nào muốn đoạn trừ gốc sanh, tử này, trước hết phải xuất gia, tu trì giới hạnh, khiêm hạ nhẫn nhục, sống chỗ yên tĩnh vắng lặng, tu tập thiền định, lìa các pháp tham dục, ác hại bất thiện, hữu giác hữu quán, thì chứng được Sơ thiền, trừ giác quán thì sanh Định, nhập nơi hỷ tâm, thì chứng được đệ Nhị thiền, xả bỏ hỷ tâm, được chánh niệm, đầy đủ Căn lạc (lạc thú nơi sáu căn), thì chứng được đệ Tam thiền, trừ Khổ, Lạc, được tịnh niệm, nhập nơi xả căn, chứng đắc Tứ thiền, thì gặt được báo Vô tưởng. Riêng có một vị sư nói chỗ như vậy gọi là Giải thoát, từ chỗ có được Định, Giác rồi, khi đó mới biết được đấy không phải là chỗ giải thoát. Lìa bỏ sắc tưởng, vào chỗ rỗng không, diệt bỏ Hữu đối tưởng(tưởng có sự đối đãi), vào nơi Thức, diệt vô lượng tưởng thức, chỉ quán một thức, thì vào được chỗ không có thứ gì, lìa bỏ muôn trùng tướng, thì vào được nơi Phi tưởng, Phi Phi tưởng. Chỗ ấy gọi là Giải thoát rốt ráo, chính là bờ bên kia của các học giả. Thái tử muốn đoạn trừ căn bệnh sanh tử, phải nên tu học những hạnh như vậy.”
Do Thái tử đã biết Phi tưởng, Phi phi tưởng không phải là chỗ rốt ráo, nên tiếp tục hỏi tiên nhân: “Phi tưởng, phi phi tưởng xứ là có Ngã (có ta) hay là Vô ngã (không có ta)? Nếu bảo là Vô ngã thì không nên nóiPhi tưởng, phi phi tưởng; Còn nếu bảo là có Ngã, thì Ngã là hữu tri hay Ngã là vô tri? Nếu Ngã là vô tri thì giống với gỗ, đá; Nếu Ngã là hữu tri thì có duyên ràng buộc, đã có duyên ràng buộc thì có nhiễm trước, do nơi nhiễm trước, thì chẳng giải thoát, do ông đã dứt sạch thô kết (những ràng buộc bên ngoài trần cảnh) mà bản thân không biết được tế kết (những ràng buộc bên trong tâm thức) vẫn còn. Do nơi lý ấy mà bảo là rốt ráo, thế thì tế kết tư trưởng, lại thọ nhận việc hạ sanh. Cho nên, do điều này mà biết không vượt qua bờ bên kia được. Nếu trừ được Ngã và Ngã tưởng, xả bỏ sạch hết tất cả, thì đấy gọi là chân Giải thoát”
A La La tiên nhân im lặng, Thái tử bèn đi tới khu rừng A Lan Nhã ở bên ngoài thành Vương xá, đến chỗ ở của tiên nhân Uất Đà La, cũng luận nghị vấn đáp như thế.
Đương lúc Thái tử đi tới chỗ ở của Bạt Già Bà, đến thành Vương Xá, thì giữa đường ngồi ngay ngắn trên tảng đá núi Bàn Trà Bà rồi tư duy. Khi đó có Tần Bà Sa La là vua nước Ma Kiệt Đà, lệnh cho các thần dân đến chỗ của Thái tử, nguyện chia nữa đất nước cho Thái tử để Thái tử trị vì. Thái tử không chịu, Ngài nói: Sở dĩ nay ta từ biệt cha, mẹ, cạo sạch râu tóc, xả bỏ đất nước, là vì đoạn trừ nỗi khổ sanh, già, bệnh, chết, chứ không phải cầu mong năm món dục lạc ở thế gian.
Lúc ấy, vua Tịnh Phạn lại sai thầy của Thái tử cùng với đại thần, đến khuyên Thái tử trở về nước, do Thái tử không theo, đành để năm anh em Kiều Trần Như ở lại làm thị vệ. Đấy tức là năm vị Tỳ-kheo làm đệ tử Phật đầu tiên nhất khi Phật khởi đầu chuyển bánh xe pháp.
Thái tử theo ngoại đạo hỏi đạo trong vòng một năm, do không thu hoạch được gì, nên Thái tử tiến vào khu rừng khổ hạnh ở núi Già Xà, ngồi ngay ngắn tư duy, mỗi ngày chỉ ăn một hạt mè, một hạt gạo, cho đến khi bảy ngày chỉ ăn được một hạt mè, một hạt gạo, suốt sáu năm ròng như thế, khổ hạnh cùng cực rồi, thì hình thể teo gầy, giống như cây khô.
- TỰ GIÁC
Sáu năm đằng đẵng, Thái tử đã tu khổ hạnh nhưng không được giải thoát, thì biết rõ khổ hạnh không phải là cái nhân Bồ-đề, cũng không biết khổ, đoạn tập, chứng diệt, tu đạo. Bèn từ chỗ ngồi đứng dậy, lựng khựng đi đến sông Ni Liên Thiền, ngâm mình vào dòng nước tắm rửa. Tắm rửa sạch sẽ xong, không thể tự lên được, bèn vin vào cành cây mà đứng dậy. Lúc đó, có một cô gái tên là Nan Đà Ba La, trông thấy Thái tử thì biết được không phải người tầm thường, nàng đem sữa và hạt vừng dâng cho Ngài dùng. Thái tử ăn xong, thân thể sảng khoái, khí lực khỏe khoắn, năm anh em Kiều Trần Như thấy việc này, cho rằng Thái tử sanh tâm thối chí, bèn bỏ Thái tử ra đi. Thế rồi, một thân một mình Thái tử đi đến Phật Đà Già Da, giữa đường may mắn gặp người tiều phu tốt, dâng cho Thái tử tám bó cỏ mềm sạch sẽ, Thái tử xếp hết tám bỏ cỏ ngay ngắn dưới gốc cây Tất Ba La làm tòa kim cang, ngồi ngay ngắn trên tòa kim cang ấy, đoan thân chánh niệm, phát lời thề lớn:
“NẾU NAY TA KHÔNG CHỨNG ĐƯỢC VÔ THƯỢNG ĐẠI BO - ĐỀ, THÌ DÙ CHO THÂN TA TAN NÁT CŨNG KHÔNG BAO GIỜ RỜI KHỎI NƠI NÀY.”
- THÀNH ĐẠO
Kinh điển Phật bảo rằng, Thái tử đoan tọa tư duy dưới gốc cây Bồ-đề, thì bị Ma vương Ba Tuần sai ma nữ làm cho tâm Thái tử vui thích, nhiều lần đến gây não loạn Ngài, nhưng Thái tử vẫn tịch nhiên, thân tâm bất động. Bởi thế, Ma vương vô cùng phẫn nộ, tập họp tất cả quân ma đến chỗ Thái tử, rồi dùng Ma lực uy hiếp bức bách, gây sấm động vang rền, bắn tuôn ra nhiều viên sắt nóng như mưa, vũ khí, gươm đao xoay tít, đan nhau quay quần trên không trung, nhưng thân tâm Thái tử vẫn kiên cố, ma không xâm hại được, chúng ma bèn tan biến.
Vào đêm mùng 7 tháng 2, giáng phục xong chúng ma thì Thái tử liền nhập định, tư duy về Chân đế, vào đêm đầu tiên, Ngài chứng được Túc Mệnh Thông, biết hết mệnh kiếp của mình trong đời quá khứ. Đến lúc nửa đêm, Ngài chứng được Thiên Nhãn Thông, thấy thấu triệt tất cả chúng sanh chết chỗ này rồi sanh vào chỗ khác, tùy theo việc làm thiện, ác mà nhận lãnh quả báo khổ, vui. Vào lúc canh ba, Ngài chứng được Lậu Tận Thông, thấy tận nhân, quả trong ba cõi, kinh dạy: Lúc bấy giờ, vào đêm canh ba, Bồ-tát quán về tánh chúng sanh, do nhân duyên gì mà có già, chết? Thì biết được già, chết lấy sanh làm gốc, nếu lìa bỏ sanh thì không còn già, chết. Còn cái sanh này lại không phải từ trời sanh ra, không phải tự sanh ra, không phải không có duyên sanh ra, mà từ nhân duyên sanh ra. Nhân nơi nghiệp ở Dục hữu, Sắc hữu và Vô sắc hữu sanh ra; rồi quán nghiệp trong Tam hữu từ đâu sanh ra, thì Ngài biết được nghiệp trong Tam hữu từ nơi bốn loại chấp thủ sanh ra; Rồi Ngài quán bốn loại chấp thủ từ đâu sanh ra? Thì biết được chấp thủ từ Ái sanh ra. Lại quán Ái từ đâu sanh ra? thì biết được Ái từ Thọ sanh ra. Lại quán Thọ từ đâu sanh ra? thì biết Thọ từ Xúc sanh ra. Lại quán Xúc từ đâu sanh ra? thì biết được Xúc từ Lục nhập sanh ra. Rồi Ngài tiếp tục quán Lục nhập từ đâu sanh ra? thì biết được Lục nhập từ Danh, Sắc sanh ra. Lại quán Danh, Sắc từ đâu sanh ra, thì biết được Danh, Sắc từ Thức sanh ra. Lại quán Thức từ đâu sanh ra? Thì biết được Thức từ Hành sanh ra. Rồi tiếp tục quán Hành từ đâu sanh ra? Thì biết được Hành từ Vô minh sanh ra. Nếu diệt Vô minh thì Hành diệt; Hành diệt thì Thức diệt; Thức diệt thì Danh, Sắc diệt; Danh, Sắc diệt thì Lục nhập diệt; Lục nhập diệt thì Xúc diệt; Xúc diệt thì Thọ diệt; Thọ diệt thì Ái diệt; Ái diệt thì Thủ diệt; Thủ diệt thì Hữu diệt; Hữu diệt thì Sanh diệt; Sanh diệt thì Lão, Tử, Ưu, Bi, Khổ, Não diệt.
Quán thuận nghịch mười hai nhân duyên như thế, đến canh tư khi sao Mai vừa mọc, Thái tử hoát nhiên đại ngộ, chứng được đạo chân chánh Vô thượng, là Tối Chánh Giác, Ngài thán rằng: “Lạ thay! Tất cả chúng sanh, đều đầy đủ đức tướng trí tuệ Như Lai, chỉ do vọng tưởng chấp trước nên không thể chứng ngộ được. Nếu lìa bỏ vọng tưởng, thì Nhất Thiết Trí, Vô Sư Trí, Tự Nhiên Trí liền được hiện tiền. Khi đó, giữa lồng ngực của Thái tử Tất Đạt Đa, như mặt trời ửng đỏ ló dạng buổi bình minh, như hoa sen rộ nở, gương tâm hốt nhiên bừng sáng, ánh sáng trí tuệ toả chiếu bốn phương. Từ một Cù-đàm khổ hạnh bỗng đốn ngộ Vô thượng Bồ-đề làm Phật Thích Ca Mâu Ni, trở thành bậc thầy dẫn đường trong Ba cõi.
GIÁO HÓA
CHUYỂN BÁNH XE PHÁP LẦN ĐẦU TIÊN
Trong kinh nói đức Phật Thích Ca đã thành Chánh giác, trong bảy ngày đầu tiên, thì Ngài tĩnh lặng tư duy, tự thọ pháp lạc. Thất thứ hai, thì Ngài bất động đạo tràng, làm Bồ-tát du hóa khắp mười phương, thuyết kinh Hoa Nghiêm, gồm bảy nơi chín hội, xiển dương pháp môn Sự sự Vô ngại Trùng trùng Vô tận. Còn gọi là Phật hiện Pháp giới Vô tận thân vân, trụ nơi biển thế giới Hoa Tạng trang nghiêm, có hoa sen bằng bảy báu rộng lớn chứa quốc độ Phật nhiều như hạt vi trần cùng lúc xuất hiện, pháp thân và quốc độ dung hòa qua lại lẫn nhau, vô tận trùng trùng, trùng trùng vô tận, chỉ có Pháp thân đại sĩ mới thấy được cảnh giới ấy, còn căn cơ Tiểu thừa, phàm phu thì không thể thấy cũng không thể nghe đến cảnh giới Hoa Nghiêm này.
Đến thất thứ ba, từ dưới gốc cây đứng dậy, hướng về phía núi Di Lâu, rồi Ngài tiến đến chỗ của hai vị tiên A La La và Uất Đà La, hai vị tiên nghe được pháp rồi mệnh chung, Phật bèn đến trong vườn Lộc Dã, nói với năm anh em Kiều Trần Như rằng: Nếu thân trong cảnh khổ thì tâm tán loạn; Còn thân ở chỗ lạc thú thì tình bị tham vướng lạc. Do đó, hai thứ Khổ, Lạc đều không phải là cái nhân của Đạo. Thí như bật được lửa, mà dùng nước tưới vào, thì chắc chắn không có ánh sáng để phá trừ bóng tối. Bật ngọn lửa trí tuệ, cũng lại như thế, nếu có nước Khổ, Vui thì ánh sáng trí tuệ chẳng sanh, do ánh sáng trí huệ không sanh nên chẳng diệt được chướng ngại của màn đêm sanh-tử. Nay các ông nếu xả bỏ được khổ, vui, thực hành ở chỗ Trung đạo, thì tâm được định tĩnh vắng lặng, kham tu được tám chánh thánh đạo kia, lìa bỏ căn bệnh của Sanh, già, bệnh, chết. Ta đã tu theo Trung Đạo, mà chứng thành Bồ-đề Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Lúc bấy giờ, khi năm anh em Kiều Trần Như nghe được lời của Phật rồi, tâm vui mừng lớn, phấn chấn vô lượng. Phật lại nói tiếp, Kiều Trần Như! Các ông phải quán Ngũ ấm thịnh khổ, sanh khổ, lão khổ, bệnh khổ, tử khổ, ái biệt ly khổ, oán tắng hội khổ, sở cầu bất đắc khổ, thất vinh lạc khổ. Kiều Trần Như! Dù hữu hình hay vô hình, dù một chân, hai chân, ba chân, bốn chân, hoặc nhiều chân, tất thảy đều có nỗi khổ như vậy. Thí như lấy than bỏ trên lửa đỏ, nếu gặp cỏ khô, lại tiếp tục cháy. Các nỗi khổ như thế, từ Ngã (ta) làm gốc, nếu có chúng sanh khởi chút Ngã tưởng nào, lại phải gánh chịu thêm nỗi khổ như thế ấy. Tham dục, sân hận và ngu si, tất thảy những thứ đó đều vin vào cội gốc của Ngã mà sanh. Ba loại độc này lại là cái nhân của các khổ, tựa như hạt giống, có thể nảy mầm, do nhiễm ba loại độc ấy mà chúng sanh luân hồi trong Tam hữu (Dục hữu, sắc hữu, vô sắc hữu). Nếu chúng sanh nào diệt được Ngã tưởng và Tham, Sân, Si, thì các khổ cũng đều từ chỗ ấy mà đoạn trừ, tất thảy những việc thực hành này đều từ Bát Thánh Đạo kia. Như người ta lấy nước tưới vào lửa cháy. Do không biết được cội gốc của các khổ nên tất cả chúng sanh thảy đều luân hồi trong sanh-tử. Kiều Trần Như! Ông nên biết về cái Khổ, phải đoạn trừ được Tập, nên chứng được Diệt, phải tu được Đạo. Kiều Trần Như! Ta đã biết Khổ, đã đoạn Tập, đã chứng Diệt, đã tu Đạo. Cho nên, Ta chứng được Bồ-đề Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Vì vậy, nay ông phải nên biết Khổ, đoạn Tập, chứng Diệt, tu Đạo. Nếu người nào không biết được Tứ Thánh đế.
(Trích từ tác phẩm ĐẠI Ý CÁC TÔNG PHẬT GIÁO )
Tác giả Hoàng Sám Hoa
Kỳ Viên Tự, ngày 31 tháng 8 năm 2008
(Tức mùng 1 tháng 8 Mậu tý)





5
3019
92286
