I. DẪN NHẬP:
II. NỘI DUNG:
Vấn đề Hoằng pháp và trang nghiêm quyến thuộc, tạo mối liên hệ mật thiết, hữu cơ trên 5 lĩnh vực:
1. Tự tính quyến thuộc:
Sự hiện hữu của con người, người xuất gia và các pháp; cơ sở vật chất, cơ sở tinh thần, đều từ Chơn như Pháp giới phát sinh. Thế nên Khế kinh nói: “Không một Pháp nào không từ Chơn như Pháp giới phát xuất. Không một pháp nào cuối cùng không trở về chân như Pháp giới” (Kinh Hoa Nghiêm). Do đó, các vị đệ tử Phật trước phải tự an trú trong Chính pháp, thực hành theo Chính pháp, sau đó mới dạy người hay nói Pháp. (PC. 158).
Như thế, sư hiện hữu của người xuất gia tu học Phật, tự nhận thấy bản thể các Pháp, bản thể tự thân và sự tồn tại trong mối tương quan tương duyên. Đó mà có thì có tất cả, không thì không tất cả... Như Cổ đức nói: “Hương thiền gió lộng tỏa ngàn phương. Trăng sáng năm xưa ngập dặm đường. Hoa lòng nở từ độ ấy. Nương pháp âm về tận cố hương”.
Từ đó, chúng ta cố gắng nỗ lực trao dồi tự tâm, tự tánh, sống trong sự bình ổn, làm việc trong sự bình ổn, trang nghiêm trong sự bình ổn, không tách rời tự tâm, tự tánh tu hành, thi hành Phật sự, trang nghiêm công đức, trang nghiêm pháp giới, trang nghiêm cơ sở đạo tràng, trang nghiêm Giáo hội. Nói đến trang nghiêm bao hàm ý nghĩa, trang nghiêm Chánh báo Tự tâm, trang nghiêm Y báo (hoàn cảnh, thế giới, quốc độ Ta bà).
2. Nghiệp lực quyến thuộc:
Tất cả chúng ta đồng một hành động, đồng một nghiệp lực, đó là nghiệp xuất gia, tu hành chánh đạo, nghiệp Giảng sư, Pháp sư v.v... Hình thức đầu tròn áo vuông, ba Y bình bát, mõ sớm chuông chiều, tương chao dưa muối v.v... Cùng một mục đích, một lý tưởng giải thoát, phụng sự chúng sanh, mong cầu Phật đạo, báo Phật ân đức. Như Cổ đức nói: “Hoằng pháp là việc nhà. Lợi sanh là sự nghiệp”.
Như vậy, tất cả chúng ta đồng một tịnh nghiệp, nói khác đi, là cùng một hành động lợi ích chúng sanh, lợi Đạo ích Đời, nỗ lực tiến tu đạo nghiệp, giải thoát, giác ngộ. Như Cổ đức nói: “Mỗi bước lần sang chốn Niết bàn. Lướt dòng sanh tử chớ hề nan. Chân không dần bước trong ly niệm. Tịnh độ là đây, là Niết bàn”.
Do đó, dù bất cứ hình thức nào, màu sắc nào, giáo phái, hệ phái nào, thì vấn đề chung nhất của chúng ta là nghiệp xuất gia tu hành, gọi là đồng nghiệp, cộng nghiệp, cộng sự với nhau, với mục đích duy nhất là duy trì phát huy đạo pháp, dân tộc, chúng sanh. Trưởng dưỡng đạo tâm, tăng cường đạo lực, trang nghiêm Giáo hội, thành tựu đạo quả giải thoát, chứng nhập Niết bàn bằng hình thức giảng kinh, nói pháp, pháp thoại, pháp đàm v.v... Như Khế kinh nói: Nghe Thế Tôn nói Pháp, lòng rất đổi vui mừng. Lưới nghi đều đã trừ. Quyết định chứng Niết bàn (Kinh Pháp Hoa).
Hành động chung nhất ấy, cũng có thể được minh họa một cách sinh động sâu sắc hơn, như Cổ đức đã xác lập theo tinh thần kinh Phổ Hiền Hạnh Nguyện: “Một lòng kính lạy Phật Đà. Cho con mãi được ở nhà Như Lai. Từ bi thương khắp mọi loài. Hành trang nhẫn nhục ra đời độ sanh. Tâm không cảnh tịch thảnh thơi. Niết bàn an lạc dạo chơi tháng ngày”. Hay nói cách khác:
Ngàn năm giáo pháp mưa bay
Ngàn năm giáo pháp truyền bày muôn phương
Ngàn năm như sóng trùng dương
Ngàn năm giáo pháp tỏa hương ngọt ngào.
3. Thệ nguyện quyến thuộc:
Sự hiện diện của người xuất gia tu học Phật là điều cần có và đủ để tạo thành nhân tố hiện hữu về sau. Do đó, vấn đề phát nguyện là vấn đề quan trọng. Nếu không phát nguyện thì ý chí không thành, quả không đạt, như nói: “Nơi nào Đạo pháp cần thì Tôi đi, không ngại gian lao, không trừ khó nhọc...” (HT. Thích Thiện Hoa). Vì thế, trong mối tương quan mật thiết về sự hiện hữu trong Đạo pháp, trong thừa hành Phật sự, luôn luôn phải thể hiện ý nguyện quan hệ lâu dài. Do đó, như Khế kinh nói: “Phàm nơi nào nói Pháp, đích thân đến cúng dường và thành kính lắng nghe, như Bà la môn thờ lửa. (PC. .392)
Do đó, ta ngày nay gặp nhau trong Chánh pháp, trong lẽ đạo và trong công tác Phật sự, không chỉ làm việc trong một ngày, một tuần, một tháng hay một đời mà phải nhiều đời nhiều kiếp. Vì vậy, luôn luôn ý thức và thệ nguyện mãi mãi là quyến thuộc của nhau, dù ở thế giới này hay thế giới khác. Như trong bài hồi hướng chúng ta thường nguyện: “Linh sơn nghĩa cũ tình xưa. Ta bà, Tịnh độ say sưa pháp mầu. Kiếp sau xin nhớ nguyện đầu. Xây tình Pháp lữ bắt cầu Tâm giao. Đời nay đến những đời sau. Chung lo Phật sự biết bao nhiêu tình. Quyết lòng độ tận chúng sinh. Từ bi, Trí tuệ thỏa tình ước mong. Không rời bản thể chân không. Tùy duyên hóa đạo thong dong mọi miền”.
4. Tập hợp quyến thuộc:
Trong các mối quan hệ, quan hệ thân hữu là một trong những ý nghĩa tác thành xã hội, quần chúng, đoàn thể, pháp hội, đạo tràng và Giáo hội. Nếu không có yếu tố liên hữu, thì không có sự tập hợp, đoàn kết keo sơn. Và một khi đã có sự tập hợp, hòa hợp đoàn kết keo sơn trong đại chúng, trong đoàn thể và trong giáo hội, thì không những đã chỉ ra được mối quan hệ thân hữu lâu đời, mà còn khẳng định sự hiện hữu là nguồn năng lượng vô biên cho những yếu tố hội tụ mãi mãi về sau, cho nên Phật tử các vùng sâu, vùng xa, vùng kinh tế mới, dân tộc v.v... đều là quyến thuộc nhau. Thế nên Cổ đức nói: “Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ. Vô duyên đối diện bất tương phùng” (Có duyên ngàn dặm còn gặp mặt. Vô duyên gặp mặt vẫn cách lòng).
Từ những mối quan hệ lâu đời, nhiều kiếp cho nên tất cả chúng ta cùng hội họp nhau, làm nhân duyên Thầy trò nhau, thu nhận đệ tử xuất gia, quy y Phật tử tại gia, thiết lập các đạo tràng, mở các lớp giáo lý, tu Thiền, tu Tịnh, trì Kinh Pháp Hoa, Dược Sư... Tóm lại, như Khế kinh nói: “Nguyện trăm kiếp ngàn đời. Cùng làm bạn trong chánh Pháp.” (Quy Sơn Cảnh Sách).
5. Bồ đề quyến thuộc:
Trong mối quan hệ về Trí tuệ, trí tuệ bẩm sinh, trí tuệ do đầu tư, tất cả đều là những yếu tố tác thành sự nhận thức đúng đắn về chân lý, về đối tượng. Do trí tuệ, chúng ta nhận rõ lý nhân quả, biết rõ lý nhân quả, nghiệp báo. Để từ đó chúng ta tránh ác, làm lành. Do đó, không bị quả báo xấu, được hưởng quả báo tốt, như người đã nói: “Bồ tát sợ nhân, chúng sanh sợ quả”. Trên tinh thần đó mà giảng kinh, thuyết pháp, giáo hóa mọi người.
Ngoài ra, những điều kiện khách quan tương ưng trí tuệ cũng rất quan trọng. Đó là đọc Kinh, nghe Pháp, học hỏi giáo lý bằng các trí huệ Văn, Tư, Tu, Quyết trạch huệ và Sinh đắc huệ” nhằm đầu tư và phát huy thêm năng lượng trí tuệ, khởi nguồn trí tuệ sẵn có, nhưng tương đối yếu để từ đó càng ngày càng tăng trưởng và thành tựu mỹ mãn do nghe Pháp. Như Ngài Vân Thê nói: “Từ nay cõi Thánh bước lần. Bồ đề thêm lớn muôn phần cao xa. Xưa nay thanh tịnh làu làu gương xưa. Muốn tu chứng Đạo Chân thừa. Bồ đề tâm nguyện sớm trưa tu trì.
III. TẠM KẾT LUẬN:
Trong tất cả hiện tượng, từ ý nghĩ đến hành động, từ phạm vi vật chất đến tinh thần, từ phạm vi thế gian đến xuất thế gian, từ phạm vi đạo đức xã hội cho đến đạo đức cứu cánh, dù Đạo hay Đời, tất cả đều có mối tương quan, tương duyên lẫn nhau. Chính yếu tố duyên sanh và quan hệ tất yếu, hữu cơ ấy làm tất cả chúng ta mới hoàn thành Phật sự, hoàn thành sự nghiệp độ sinh, hoằng dương chính pháp, lợi lạc quần sinh, Tốt đời Đẹp đạo. Như người xưa đã nói: “Tần già vỗ cánh tung bay. Vang lời pháp thoại xưa này nhiệm mầu. Lời vàng truyền bá đến đâu. Tốt đời đẹp đạo trồng sâu căn lành”. Do đó, chúng ta cẩn thận nhận thức sâu sắc và thực hiện một cách tích cực hữu hiệu, nhằm thắt chặt mối quan hệ hữu cơ, bền vững không những đời này mà cho đến những đời sau, cho đến khi chứng quả Vô thượng Bồ đề bằng cách thuyết pháp và mở ra Pháp hội đạo tràng, để giải pháp, như Thiền sư Trần Thái Tông nói: “Nói Pháp là làm thỏa mãn ý nguyện của Phật (Thuyết pháp giả mãn Phật chư nguyện). (Khóa Hư Lục)
Bị chú:
Theo kinh:
- Kinh Hoa Nghiêm Đại Sớ
- Kinh A Hàm
- Kinh Niết Bàn
- Kinh Pháp Cú
- Khóa Hư Lục - Trần Thái Tông.





45
2951
92218
