Gần ba nghìn năm trước, một thiền sư không rõ từ đâu, vượt biển khơi đi hoằng pháp các miền đất lạ dọc biển đông. Ngài lênh đênh trên đại dương bao la, ngày vớt rong biển làm thực phẩm, đêm dùng áo vải hứng sương để chi dụng. Độc mộc của thiền sư đến miền đất của xứ Chiêm Thành, ngài lên bờ lần theo dải phi lao ven biển để hoằng truyền Phật pháp.
Thuở ấy dân trí xứ này chưa được khai hóa, ngài phải vừa học tiếng địa phương vừa hoằng truyền. Một ngày nọ, ngài đến miền cát trắng hữu tình nằm bên dòng sông từ hướng tây chảy ra biển. Nhìn sông núi hữu tình, thiền sư chợt lơi tâm theo sông nước, dạ ngẩn ngơ… chợt như tỉnh giấc, ngài bấm ngón chân cái xuống đất để định tâm... đại địa bỗng rung rinh. Dấu chân cái lún xuống thành một hồ nằm cạnh biển, phần đất cạnh hồ đùn lên thành một độc sơn.
Hòn độc sơn ngày ngày soi bóng xuống hồ tâm tình, cả hai đem lòng quyến luyến tục trần, nên thề nguyền thủy chung muôn kiếp.
Ngày nọ, một con gió từ biển đi vào, thấy hồ nước đẹp nên gió mơn man mặt nước như vuốt ve má người thôn nữ, nước cũng vui đùa gợn sóng lăn tăn…
Hòn độc sơn giận lắm, cho là hồ nước lẳng lơ, bội tình quên lời hẹn ước nghìn năm. Và cảm thông với độc sơn, như để không muốn thấy cảnh đời đen bạc, đổi trắng thay đen nên một đám mây sà xuống vây quanh độc sơn như muốn che đi cảnh phụ tình….
Độc sơn lòng quặn thắt, từ trong lòng núi nứt ra một viên đá , lăn xuống sông Hà Ra.
Viên đá ấy, thuở đầu thô nhám sần sùi - nó buồn khổ rồi vui với cảnh đời tục lụy. Sau nhiều năm được nước từ nguồn Tuyết Sơn làm mây thành mưa tuôn xuống mài dũa trở nên nhẵn bóng nằm giữa dòng sông Cái.
Hơn hai ngàn năm sau, Thiền sư xưa từ núi Tuyết Sơn lấy một cọng lau đặt trên biển rồi đưa chân lướt đi, ngài muốn thăm lại những miền xưa kia đã hoằng hóa.
Đến đất Nha Trang nhìn dòng sông Cái, thấy đứa con của hòn Bạch Tượng đang nằm giữa giòng sông mắt đầy u uẩn hướng về độc sơn. Thiền sư mỉm cười từ bi cầm lấy Đá kia, đặt trên đỉnh Bạch Tượng. Ngài vỗ về an ủi Đá, bảo rằng: Con đợi một thời gian nữa, khi đủ nhân duyên, sẽ có thầy của con đến và hãy xuất gia để tu học.
Đá tuy đã được nằm trên đỉnh Bạch Tượng, nhưng vẫn còn trẻ con, ngày ngày nó đến mọi nơi, từ cây đa, cây si, rồi lăn đi khắp chốn, không ở yên một chỗ... Ngôi miếu xưa trên đỉnh Bạch Tượng nay đã thành chùa Kỳ Viên Trung Nghĩa, còn cái hồ lẳng lơ kia đã bị người đời lấp cát, san bằng mở rộng khu chợ bên hồ thành Chợ Đầm.
Qua hai đời Trụ trì chùa Kỳ Viên, nhưng Đá vẫn chưa hội đủ nhân duyên, vì nó mãi vui chơi thế sự. Đến đời vị Trú trì thứ ba, Đá vẫn ngày ngày lăn khắp nơi. Nhưng giờ đây, nó biết len lén nghe Thầy Trụ trì tụng kinh, rồi cũng biết lạy Phật mỗi khi lăn vào đại điện. Rồi bạo dạn hơn, mỗi lúc thầy trụ trì hành lễ, nó kính cẩn quỳ bên...
Thấy hòn đá có linh khí, Thầy Trụ trì cảm thông bảo: Con theo thầy tu, đừng nghịch ngợm nữa. Thầy trò ta có nhân duyên từ nhiều kiếp trước… nên con hãy theo con đường của Thầy mà làm chỗ dựa cho chúng sanh.
Nhưng, Đá tự nghĩ, mình thế này mà làm sao làm chỗ dựa cho chúng sanh được? Nhưng mình cứ tập tu thử, bây giờ mình sẽ ngồi im một chỗ để “tu”!
Rồi đá xin quy y với Thầy.
Từ lúc hòn đá ở yên vị, có một bầy én nhỏ ngày đêm liệng bay sông, núi biển, nhân gian... và rồi bầy én nhỏ về nương nơi hốc Đá... Đá Vỡ Bờ.
Chuyện cổ tích đến đây, mời độc giả viết tiếp.





45
2951
92218
