(tiếp theo)
Nam Mô Đại Từ bi, năng Hỷ xả,
Quán Âm Như Lai, Thường hành bình đẳng nguyện
Như thể ngọn xuân phong phưởng phất, lan tỏa và thẩm thấu vào trong từng tâm thức của mỗi hành giả trước thềm Đạo tràng thanh tịnh, trước khi đi vào cụ thể hóa phần tiếp theo, thành tâm tưởng niệm, tri ân sâu xa công đức giáo huấn của Cố Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Thiện Siêu khi mô phỏng phổ quát, phản chiếu hiển hiện thâm thúy sự tiềm tàng của hạnh nguyện Đức Bồ tát Quán Thế Âm, cũng như tiềm năng tương ứng trong mỗi chúng ta: “Ngài như mặt trăng, lòng chúng ta như hồ nước. Hồ nước có trong thì trăng mới hiện xuống, hồ nước vẩn đục thì bóng trăng không hiển hiện. Nước lờ mờ thì trăng hiện lờ mờ, nước trong suốt như gương thì trăng hiện mới đẹp. Tâm của chúng ta là nước, bóng trăng là Ngài. Tâm ta trong sáng thì bóng Ngài hiện ra một cách toàn diện. Như vậy, là trăng không đi tới với nước, mà trong nước vẫn có trăng. Đó là cảm ứng Đạo giao nan tư nghì”.
Cũng như thể một bản hòa tấu tuyệt diệu, với ca từ, thanh nhạc và giá trị truyền cảm quyện hòa, hoàn mỹ, Đạo ca ấy đã ngân lên tràng thanh âm diệu dụng của ba đức tính: Đại Từ bi, Tánh Nhẫn nhục và Hạnh Thanh tịnh của Bồ Tát, đó cũng là những đức tính tiềm năng, phổ biến trong mỗi chúng ta, “Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”.
Đức Bồ Tát Quán Thế Âm là chân thể của đức Đại Từ bi-Tượng trưng nước
Xuất phát từ tinh thần chánh kiến, trí vô phân biệt, Từ bi là lòng thương không vụ lợi, không phân biệt thân sơ, lòng thương chân thật, bình đẳng. Từ bi chẳng những cứu người trong cơn nguy khốn, mà con đem lại cho người nguồn an lạc vô biên. Khi chúng sinh bị lửa phiền não thiêu đốt, tha thiết cầu cứu thì Ngài sẽ mang nước Từ bi đến dập tắt và đem lại cho người sự mát mẻ an lành. Chúng ta đang sống trong nhà lửa Tam giới: Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới, ngọn lửa phiền não ấy đang nổ cháy rần rần, nếu không có giọt nước Từ bi của Ngài, chắc hẳn chúng ta đều phải chết thiêu trong lò phiền não, khổ đau khôn lường-Hỏa lò ngũ dục lạc: Tài, Sắc, Danh, Thực, Thùy .
Đức Bồ Tát Quán Thế Âm là hiện thân của đức Tánh Nhẫn nhục- Tượng trưng Nhành dương liễu: Nhẫn nhục là một trạng thái tâm niệm kiên định, vững chãi vô song trước mọi thuận cảnh cũng như nghịch cảnh của sự biến thiên trong sát- na vô thường của tâm niệm, nội tâm và ngoại cảnh. Và vì vậy, chính bản chất của Nhẫn nhục là khéo tùy thuận người, để hướng dẫn họ theo đường lối, hay lập trường Chánh đạo của mình. Tùy thuận mà không bị họ chi phối, ngược lại chi phối, cảm hóa được họ, “Hòa nhập, bất hòa tán”. Người Nhẫn nhục mới trông qua cảm thấy như rất yếu hèn, kỳ thật họ có sức mạnh phi thường, quyền biến: “Nhu hòa mà khó xâm phạm, yếu đuối mà khó tổn hoại”. Cũng như Đức Phật đã dạy trong kinh Pháp Cú: “Thắng một vạn quân, không bằng thắng chính mình, thắng chính mình là chiến công oanh liệt nhất”. Người có đức Tánh Nhẫn nhục mới được mệnh danh là người Đại hùng, Đại lực, Đại trí, đó chính là đức hạnh căn bản tiềm tàng, cao quý của Ngài cũng như của nhân loại.
Đức Bồ Tát Quán Thế Âm là chứng nghiệm của đức Hạnh Thanh tịnh-Tượng trưng Bình Thanh tịnh: Chư Phật dạy: “Tự tịnh kỳ ý” - giữ tâm ý thanh tịnh -là biểu tượng xứng hợp với hình ảnh tượng trưng hoa Sen, đây là ý nghĩa siêu thực, mầu nhiệm mà rất chân thực, thuần khiết. Bởi vì hoa Sen được biểu thị cho đức Tánh Thanh tịnh và giải thoát, đó là đặc tính không có ở loài hoa khác. Vì cái thanh tịnh ngay giữa chốn ô trược, mới chơn thực thanh tịnh. Đức tánh thanh bạch và siêu việt ấy chỉ có ở hoa Sen mới đủ năng lực tượng trưng cho Ngài, đồng giao cảm trong mỗi nhân sinh.
Chính cái vi diệu ở Đức Bồ Tát là đặc điểm nổi bật này, sự linh cảm diệu ứng của Ngài vô cùng thực tiễn, cụ thể ở đây, Bắc tông Phật giáo đặt trọng tâm ý nghĩa “Thanh tịnh trong ô nhiễm”, nên chủ trương “Phiền não tức Bồ đề”, “Sanh tử tức Niết bàn”. Không thể tìm thấy Bồ đề ngoài phiền não, không thể có Niết bàn ngoài sanh tử, y cứ ngay trong phiền não, chúng ta khéo chuyển hóa thành ra Bồ đề, trong sanh tử khéo chuyển hóa sẽ thành Niết bàn, hay nói một cách thi vị : “Quê hương của Niết bàn là trần thế”. Vì thế đi đến chủ trương “Tích cực nhập thế”, bởi vì không có Đức Phật ngoài chúng sanh, không thể có cõi Cực lạc, thanh tịnh ngoài chốn Ta bà uế trược. Thật đúng là Hạnh nguyện: “Tùy duyên bất biến, bất biến tùy duyên”, đây cũng chính là điểm son chói lọi của Tâm linh cảm ứng Đạo giao nan tư nghì.
Cầm nhành dương liễu, Ngài rưới nước Cam lồ Từ bi lên khắp tất cả vạn loại, trừ mọi nhiệt não, Ngài làm cho mọi người đều được tưới tắm trong dòng suối thanh lương. Nghe tiếng kêu than tuyệt vọng mà cứu độ khổ đau cho Tứ sanh- “Noãn sanh, Thai sanh, Thấp sanh, Hóa sanh”, Ngài hóa thân thiên hình vạn trạng, thuyết pháp để độ thoát cho Lục Đạo- “Thiên, Nhơn, A-tu-la, Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sanh”- đến bến bờ an bình, tịnh lạc.
Trên bước đường tu Đạo và hành Đạo - tự độ và độ tha- tự giác và giác tha, mỗi hành giả ý thức sâu sắc, là tự quán sát hướng nội, thành tâm sám hối, để luyện lộc tâm tánh, thanh tịnh tam nghiệp-Thân, Khẩu và Ý - của mình. Ách yếu trong sự hành trì của hành giả là “Phản quán tự tánh”, từ then chốt ấy, hiển hiện đồng giao, “Tiếng mà hòa, thì âm vang mới thuận”:
“Đầu nhành dương liễu vương
Một giọt mười phương rưới khắp cùng,
Bao nhiêu trần lụy tiêu tan hết,
Đạo tràng thanh tịnh ứng hiện ngay”.
Bà Nà, Đà Nẵng, 19.09. Mậu Tý.
(còn tiếp)





44
2950
92217
