(Cảm niệm ngày Đức Phật đản sanh) - Ngôn ngữ yêu thương Nhân loại.

Tác giả: Huệ Kính

Đại từ đại bi mẫn chúng sanh

Đại hỷ đại xả tế hàm thức…

…Lời ngợi khen gợi Đức Sakya Mauni mà tất cả những tâm hồn trắc ẩn đi tìm một tình yêu không vị kỷ, không vụ lợi, không hạn lượng của kiếp nhân sinh này.

Bạn hãy nhìn lại trong hành tinh xanh đây, sự sống của nó dung nạp tất cả vạn vật; từ những Giáp xác nguyên bào cho đến Đơn bào, Đa bào, với những chuỗi xoắn kép (AND) Tế bào. Tất cả đều có chung một giá trị sống; tức để bảo vệ và tồn tại.

Trong tất cả những sinh linh đó, con người cũng không ngoại lệ. Nhưng cao cả hơn, con người được đánh giá có trái tim, có khối óc để nâng cao giá trị sống; có nhân cách, có phẩm hạnh: Đó cũng chính là ngôn ngữ yêu thương cho nhân loại và của chính mình.

VÔ TÌNH TÍNH

Nhìn lại lịch sử tiến hóa của nhân loại vào thời kì nguyên sơ vũ trụ con người chưa có mặt: Không gian chìm ngập trong mây bụi của năng lượng đầy dẫy khí Hydro và Hêli, nhiệt độ của chúng lên đến hàng tỉ tỉ độ dương. Cũng may chỉ mất 10-33 giây vũ trụ nguội dần, bóng tối đậm đặc đã tắt lịm nhường chỗ cho ánh sáng ngự trị, thế là hành tinh xanh được hình thành sự sống và tồn tại trong thái dương hệ muôn màu sắc này. Có thể nói, phải mất vài tỉ năm loài vô tính mới xuất hiện theo qui luật tự nhiên, chúng chuyển mình thay đổi lớp vỏ sống; thế hệ vô tình tính như: Nguyên, Đơn, Đa, cho tới tế bào tất cả luôn chuyển động, và rồi trật tự xã hội của chúng cũng được hình thành… (trong khuôn khổ của bài, người viết không có tham vọng đi xa trong lĩnh vực của các nhà Sinh vật học và Vật lý vũ trụ học).

HỮU TÌNH TÍNH

Nền văn minh nhân loại bắt nguồn từ thời Hy lạp cổ đại với các triết gia vĩ đại đã đem lại bao điều thánh thiện cho thế giới nhân sinh: Từ trường phái Thales cho đến phái Pythagore, phái Heraclite… họ đều nhấn mạnh đến hữu tình tính; tình yêu thương nhân loại của họ tràn đày nhiệt huyết, họ nâng cao giá trị đạo đức mà các học trò kế tục như “Socrates, Plato, Aristotle v.v..., đều hướng lên và định nghĩa rất nhân bản, không những thế họ nhìn vũ trụ quan một cách thấu đáo mà họ phải thốt lên: Vũ trụ này như tư tưởng con người vậy”.

Hãy để tâm trong thuật ngữ “Tư tưởng”. Từ này theo thạc sĩ Kinh Khê Nhân (Viện nghiên cứu báo chí thuộc đại học chính trị Đài Loan) đồng nghĩa với Tinh thần, lương tâm, lương tri, nhân cách, tâm linh hay linh hồn là một vậy.

Khi bạn tiếp xúc với đối tượng để tạo ra lý trí cho tư tưởng của mình. Tri thức tốt sẽ tạo ra nhân cách tốt; lương tri của bạn sẽ là nhân phẩm chuẩn mực, không vụ lợi, không thực dụng.

Linh hồn của bạn là một “Phiến” hư ảo, không nhìn thấy, không sờ thấy, không nghe thấy nhưng nó tồn tại trong lương tri của chính bạn. Linh hồn của bạn nếu không biết giữ gìn, cũng có thể đem ra bán trong mọi cảnh đời, bán dần, mất dần cho đến lúc không còn nhân cách nữa.

Đời Đường, nhà thơ Lý Thương Ẩn dùng “đắc” một chữ Tâm: “Tâm hữu linh tê nhất điểm thống”. - Ý muốn chỉ sự tâm đầu ý hợp, tâm linh tương thông, tình cảm cộng minh giữa tình tri kỷ để tạo ra lương tri của con người. Nếu không sống với chữ “linh” ở đây, tự bạn đã và sẽ làm xói mòn những giá trị tư tưởng đạo đức của chính mình.

Đứng về mặt tri thức họ là những người đáng được kính phục và học tập lắm chứ; nhưng về mặt siêu nghiệm tâm linh họ chưa thể tích hợp và trải nghiệm nên không có khả năng giao diện với tri thức giác ngộ, giải thoát.

Đối với nhãn quan của đức Sakya Muni, “vũ trụ này” là vô thủy vô chung tức không có nguyên nhân đầu tiên và không có kết cuộc, bởi tất cả là do nhân duyên mà hợp thành. Ngài đã khai mở:

“Vũ trụ hợp thành do nhiều tiểu thiên, trung thiên và đại thiên thế giới” tức những dòng Thiên hà mà các nhà vật lý vũ trụ đã biết được trong thế kỷ 20 này. Vũ trụ hay các thế giới trong vũ trụ hằng biến chuyển theo định luật vô thường, chúng chịu theo qui luật Sinh-Trụ-Hoại-Diệt như bất cứ một vật thể nào khác trong thế giới hiện tượng. Điều này tương ứng với giả thuyết có nhiều Big Bang nhỏ, sau mỗi Big Bang vật chất lại được tạo lập theo một cơ cấu khác.

Ngài có một bài pháp với đệ tử rằng: Tất cả các pháp đều do duyên sanh; vào thời kỳ cuối của kiếp hoại, chúng sanh thọ mạng chỉ có mười tuổi - với sự bức khổ của vũ trụ, họ chỉ biết cầu nguyện ở Thánh linh nên khi mất họ sinh về cõi Trời Quang Âm hưởng thọ tám đại kiếp. Ở đó, hết phước họ lại bắt đầu rơi xuống các tầng trời: Vô lượng quang, Thiểu quang, Đại phạm thiên… và cứ như thế họ lại trôi lăn trong vòng lục đạo luân hồi.

Đức triết thuyết Sakya Muni với triết lý tình yêu của Ngài được hiểu theo nghĩa Triết học: Philosophy - theo nghĩa gốc của Hi Lạp có nghĩa là tình yêu Đạo lý và Tri thức, Philos là tình yêu; sophya là đạo lý, tri thức, gọi chung là tình yêu lý trí, khác với tình yêu bi lụy của lứa đôi thường tình. Trên bình diện lý trí đây là tình yêu cơ bản của con người. Ở đây, con người là trung tâm, nghĩa là con người đặt ra đạo lý và phải tuân thủ theo đạo lý đó. Mọi đạo lý sai lầm do con người đặt ra sẽ bị đào thải theo thời gian.

Tình yêu của Đức Sakya Muni như mặt trời trên đỉnh non cao phủ chiếu ánh sáng xuống trần gian, cũng đồng thời soi sáng tất cả sự vật ở trần gian, có nghĩa là trong tình yêu đó, không có bất kỳ một dấu vết nào của bóng tối. Do đó, thể tính vô bờ của tình yêu được thức tỉnh (giác ngộ), chính là biểu hiện của sự toàn tri, từ sự toàn tri đó thể hiện rõ trong kinh Lăng Già (Lankàvatàra) như sau:

1. “Thế gian ly sanh diệt

Do như hư không hoa

Trí bất đắc hữu, vô

Nhi hưng đại bi tâm.”

Nghĩa: “Thế gian vượt khỏi sinh và diệt, giống như hoa đốm giữa hư không, trí tuệ không thể được xem là có hay không, vì biết rõ như vậy nên thể tính vô bờ của tình yêu thức tỉnh”.

2. “Nhất thiết pháp như huyễn

Viễn ly ư tâm thức

Trí bất đắc hữu, vô

Nhi hưng đại bi tâm.”

Nghĩa: “Mọi hiện hữu như là huyễn mộng, vượt khỏi vòng cương tỏa của tâm thức, trí tuệ không thể được xem có hay không, biết rõ như vậy nên thể tính vô bờ của tình yêu thức tỉnh”.

3. “Viễn ly ư đoạn, thường

Thế gian hằng như mộng

Trí bất đắc hữu, vô

Nhi hưng đại bi tâm.”

Nghĩa: “Xa rời các kiến chấp về đoạn diệt hay thường hằng, thế giới này như là giấc mộng, trí tuệ không thể được xem là có hay không, biết rõ như vậy nên thể tính vô bờ của tình yêu trỗi dậy”.

4. “Tri nhân, pháp vô ngã

Phiền não cập nhĩ diệm

Thường thanh tịnh vô tướng

Nhi hưng đại bi tâm.”

Nghĩa: “Thường biết rõ như vậy, Nhân không và Pháp cũng không, phiền não và các đối tượng của nó từ bản chất vốn thanh tịnh; vô tướng, biết rõ như vậy nên thể tính vô bờ của tình yêu trỗi dậy”.

Thông qua 4 bài kệ này, hẳn bạn thấy rõ cội nguồn tình yêu bao la của Ngài là vượt lên trên tất cả sự sinh và diệt, sự có và không của vũ trụ và thế gian. Rồi, cũng từ trên mặt đất gồ ghề của trần gian này, chứa đầy những bông hoa sinh diệt liên hồi, những tuồng kịch của trần đời như mộng, như huyễn; ngay ở đó, thể tính vô bờ của tình yêu trỗi dậy và phủ xuống trần gian mênh mông bao la, ví như mặt trời trên đỉnh non cao vậy!

Vì hoàn toàn bất lực trong việc giải thích thể tính vô bờ trong tình yêu của đức Sakya Muni nên người ta tạm diễn đạt cái thể tính vô bờ đó bằng tên gọi Đại Từ -tức sự đem lại và ban cho nguồn an vui vô lượng; Đại Bi - tức sự đem lại và ban cho cuộc sống xa rời khổ não, mà có thể gọi chung là Tâm Từ Bi .

Hẳn bạn phải biết rằng, chỉ có con người của tình yêu vô bờ mới có sự biểu hiện của tình yêu vô biên; sự biểu hiện mà ở đây nói đến rất thiết thực: Như Ngài xỏ kim cho một bà già, Ngài bế chú Cừu non bị lạc đàn, Ngài tắm cho vị thầy Tỷ kheo bị ghẻ lở… Tất cả hình ảnh đó quả thật khó mà tìm thấy ở một bậc Đạo sư với tư cách là Giáo chủ của một Tôn giáo. Thông qua ngôn ngữ tình yêu, chắc bạn vẫn chưa tìm thấy bất kỳ một vị giáo chủ nào có thể tuyên bố rằng: “Tất cả chúng sanh đều có khả năng thành Phật” như Ngài đã tuyên bố. Vậy chỉ có con người có thể tính vô biên của tình yêu mới nói lên điều đó; và cũng chỉ có thể tính vô bờ của tình yêu mới làm được điều đó, để giúp bạn hướng đến đỉnh cao của tâm linh - nghĩa là giác ngộ, giải thoát ra khỏi qui luật Thành-Trụ-Hoại-Không của vũ trụ sanh diệt này.

Đối với tri thức Khoa học hay Nhân tính học rất hạn lượng và vô đạo lý. Vậy bạn có bao giờ tự đặt câu hỏi cho chính mình chưa? Chẳng hạn như là: Sống! Cuộc đời của mình như thế nào? Sống! Trong xã hội ra sao? Mình có thể biết được những gì?

Chắc chắn đó là 3 câu hỏi phản ảnh những bận tâm của mọi người. Lý tưởng nhất là lẽ sống của ta, phải đưa chúng ta đến một cảm giác viên mãn, từng phút khơi nguồn sáng tạo và không làm bạn hối hận lúc lâm chung; cuộc sống trong xã hội cùng với những người khác phải tạo ra tinh thần trách nhiệm cho nhau. Tri thức phải giúp bạn khám phá ra bản chất của thế giới xung quanh và bản chất của tâm linh con người.

Những câu hỏi này đã tạo tiền đề cho sự ra đời của Khoa học, Triết học, Chính trị, Nghệ thuật, hành động xã hội và tâm linh. Tuy nhiên, sự phân chia mang tính chủ quan các hoạt động này sẽ chỉ dẫn đến sự lụi tàn dần dần tồn tại của con người: Không có tri thức được nuôi dưỡng bằng lòng vị tha thì khoa học và chính trị sẽ trở thành con dao 2 lưỡi, đạo đức trở nên mù quáng, nghệ thuật trở nên phù phiếm loè loẹt, cảm xúc hoang dã và tâm linh viễn vông. Không có hiểu biết, tri thức sẽ suy vong; không có đạo đức, tất cả các hoạt động này trở nên nguy hiểm, và không có sự tu chính tâm linh, chúng sẽ trở nên vô nghĩa.

Bấy nhiêu đó cũng đủ cho bạn - một hữu tình tính, tự chọn đáp án cho mình. Hãy lấy đó làm hành trang, tác nghiệp cho tâm linh của mình.

Đức Sakya Muni xuất hiện ở đời với tình yêu vô bờ đã “Khai-Thị cho chúng sanh Ngộ - Nhập -Tri kiến Phật - tại pháp hội linh sơn. Bạn có thấy ngoài kia bầu trời xanh thăm thẳm ,nơi của những linh hồn đang chờ đón.

 

Các sách tham khảo:

Cái vô lượng trong lòng bàn tay (Trịnh xuân Thuận)

Nguồn gốc (Trịnh xuân Thuận)

Những Con Đường Của Ánh Sáng -tập1 (Trịnh xuân Thuận)

Câu chuyện Triết học (Bryan Magee -Huỳnh Phan Anh, Mai Sơn dịch)

Truy tầm Triết học (G. M . TresDay- Kt. J. Struhl-RCh. E. Olsen)

Hành Trình Cùng Trết Học (Ted Honderich)

Từ điển Sinh vật học

Báo Kiến thức ngày nay số 29-32- 46

Nguyệt san Giác ngộ số 25-26- 27

Kinh Trường A Hàm

Kinh Lăng Già

Luận Đại Trí Độ

 

Trang Ảnh

Pháp Âm

Thống kê

Hiện có 2 khách đang trực tuyến

35

2941

92208

 

Âm lịch

Copyright @ 2009-2010 Chùa Kỳ Viên Trung Nghĩa
132 Sinh Trung, Nha Trang, Khánh Hòa, Việt Nam
Điện thoại: +84.58.3827197; 3500252
Cố Vấn: Hòa Thượng Thích Trí Viên | Biên Tập: ĐĐ. Thích Huệ Pháp
Thư điện tử xin gởi về: huephap@gmail.com
Ghi rõ địa chỉ nguồn "kyvientrungnghia.com" khi đăng lại từ trang web này