Cảm niệm Đức Phật Thích Ca Thành Đạo

Tác giả: Huệ Hạnh

 

 

“Tánh giác tuy đồng chư Phật

Chúng sanh muôn kiếp tập khí sâu xa

 

Sóng mê lặng, gió vọng dừng

 

Giác ngộ Diệu Pháp Niết Bàn Vô Dư.”

Đi ngược dòng lịch sử quá khứ thiêng liêng, trải qua những tháng ngày tu hành thử thách cam go, tư duy, thẩm nghiệm dưới cội cây Bồ Đề với lời Đại thệ nguyện: “Nếu Ta không thành Đạo, thì dù thịt nát xương tan, Ta quyết không đứng dậy khỏi nơi này.” Chính tại nơi đây, Bồ Tát Tất- Đạt- Đa (Sid-dhattha Bodhisattva) là người chiến thắng, đã hàng phục tất cả ma vương phiền não, ngoại cảnh lẫn nội tâm, dứt trừ mọi cội gốc của sanh tử khổ đau, ánh sáng giác ngộ bừng chiếu, chứng Vô thượng Bồ Đề, đạt Đại ngộ, trở thành Đấng Giác ngộ sáng suốt hoàn toàn - Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Và Ngài đã tuyên bố chấm dứt kiếp sống sanh tử trầm luân bằng những Phật ngôn đầu tiên qua bài kệ Hoan Hỷ:

“Lang thang bao kiếp sống

 

Ta tìm nhưng không gặp

 

Người xây dựng nhà này

 

Khổ thay, phải tái sinh

 

Ôi! Người làm nhà kia

 

Nay ta đã thấy ngươi

 

Ngươi không làm nhà nữa

 

Đòn tay ngươi bị gãy

 

Kèo cột ngươi bị tan

 

Tâm ta được Tịch diệt

 

Tham ái thảy tiêu vong.”

(Kinh Pháp Cú: 153-154)

Phật ngôn ấy như một bài Khải hoàn ca, diễn đạt sự chiến thắng rực rỡ vẻ vang sau cuộc chiến đấu nội tâm thầm lặng gian nan. “Người xây nhà” tượng trưng cho Tham ái, Vô minh, Chấp thủ... phiền não luôn ẩn sâu kín trong mỗi chúng sinh, nay đã xuất đầu lộ diện, phơi bày ngụy tướng. Như mặt trời tỏ rạng xóa tan mây mù, Ngài đã chứng ngộ Tam Minh, thấy rõ tất cả những gì trong vô lượng kiếp quá khứ của Ngài (Túc Mệnh Minh); cũng như quan sát tận tường sự luân chuyển của chúng sinh trong ba cõi - Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới - (Thiên Nhãn Minh), và sau cùng với Tuệ giác vô thượng, Ngài thấu suốt nguồn gốc chiêu cảm nghiệp lực phiền não và diệt tận hết thảy khổ đau, để giải thoát khỏi sanh tử luân hồi (Lậu Tận Minh). Thật vậy, vấn đề chính yếu đầu tiên trong những lời Phật dạy khi bắt đầu chuyển Pháp luân, thực chất đấy là nội dung trọng tâm của con đường Trung đạo. Đức Phật thuyết giáo: “Như Lai đã chứng ngộ con đường Trung Đạo (Majjhima Patipada) là con đường đem lại Nhãn quan (Cakkhu), và Tri kiến (Nàna) đưa đến An tịnh (Vupasamàya), Trí tụê cao siêu (Abhin-Naya), Giác ngộ (Sambodhàya) và Niết Bàn (Nibhàna).”

Trong cảnh huy hoàng của giờ phút sau khi thành Đạo ấy, Phạm Thiên đã thay cõi Nhân - Thiên, cầu thỉnh Đức Phật chuyển Pháp luân. “Bạch Thế Tôn hãy thuyết Pháp! Bạch Thiện Thệ hãy thuyết Pháp! Có những chúng sinh ít bị bụi trần che lấp, sẽ bị nguy hại nếu không được nghe Chánh Pháp. Nếu được nghe, vị này có thể thấu đạt Chánh Pháp”. Đức Thế Tôn đã suy ngẫm: “Giáo Pháp giải thoát Ta chứng được thật sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh cao thượng, siêu lý luận, ly dục, duyên sinh, vô ngã... chỉ người có Trí tuệ mới chứng đắc, còn chúng sinh đắm chìm sâu trong vũng lầy đầy dẫy tham ái, thủ trước trong những định kiến si mê, chấp ngã lầm lạc, khó có thể tiếp nhận giáo Pháp ấy”. Và như thế, với Trí tuệ của Bậc Giác ngộ, Đức Thế Tôn đã quan sát thế gian và thấy rằng: “Có hạng chúng sinh ít nhiễm bụi đời, nhiều nhiễm bụi đời; có hạng lợi căn, độn căn; có hạng thiện tánh, ác tánh; có hạng dễ giáo hóa, khó giáo hóa... Như trong hồ sen xanh, hồ sen hồng, hồ sen trắng sinh ra dưới nước, lớn lên dưới nước, không vươn lên khỏi mặt nước, được nuôi dưỡng dưới nước; có loại sinh ra dưới nước, vươn lên khỏi mặt nước, không bị nước thấm ướt...” (Kinh Trung Bộ I). Với hình ảnh ý nghĩa sinh động trên, đã gợi lên trong Thế Tôn căn cơ sai biệt của nhân sinh, dù sống trong nghiệp quả bất đồng, song mỗi chúng sinh đều có hạt giống giác ngộ, như hoa sen dù sống trong bùn tanh hôi, nhưng vẫn tỏa hương sắc thơm ngát. Hy hữu thay! Hiển nhiên với lòng từ bi vô lượng, vì bản nguyện độ sinh, Đức Phật đã dấn thân vì hạnh phúc, vì an lạc cho số đông, chư Thiên và loài người. Sau ba lần thỉnh cầu và phát khởi thiện nguyện hộ trì Chánh Pháp của Phạm Thiên, Đức Thế Tôn quyết định gióng lên tiếng trống Pháp âm vi diệu và bắt đầu thực hiện sứ mệnh thiêng liêng. Ngài tuyên bố với thế gian, loài người, cõi Trời và tất cả, con đường Trung Đạo cứu khổ và diệt khổ, lộ trình dẫn tới cõi bất sinh, bất diệt, cõi Niết Bàn đã được khai nụ nở hoa: “Cửa bất tử rộng mở cho những ai kiên trì lắng nghe và thực hành Chánh Pháp” (Kinh Trung Bộ I). Và tuyệt diệu thay! Bánh xe Pháp đã bắt đầu chuyển vận - Chuyển Pháp Luân (Dhamma Cakkappavatana), Ngài dã thuyết Pháp lần đầu tiên tại ngoại thành Ba-La-Nại, nơi vườn Nai cho những người bạn đồng tu khổ hạnh trước đấy - Năm anh em Kiều-Trần-Như giáo Pháp được thuyết chính là Tứ Diệu Đế (Catvary Aryasatyani), Bốn Chân lý nhiệm mầu, Bốn thông điệp Giác ngộ, Khổ đế (Dukkha) là sự xác nhận thực trạng khổ đau của nhân sinh; Tập đế (Samudaya) là sự truy nguyên nguồn gốc dẫn đến thực trạng đau khổ; Diệt đế (Nirodha) là sự tận diệt hết thảy trầm luân khổ đau; Đạo đế (Magga) là sự hành trì trên con đường dẫn đến chấm dứt triệt để khổ đau. Tùy theo căn cơ sai biệt, bất đồng của hội chúng mà thuyết giảng ba lần Giáo Pháp ấy, gọi là “Tam chuyển Pháp luân: Thị chuyển, Khuyến chuyển và Chứng chuyển”. Và khuyến hóa cho họ quan sát nhân quả thế gian và xuất thế gian, tín phục, nhiếp tâm, y Pháp tu hành, liền chứng đắc quả vị A-La-Hán.

Thật kỳ vĩ, Đức Phật như một Người đứng trên đỉnh núi cao nhìn xuống xung quanh chúng sinh ở phía dưới chân núi, đang bị thống khổ cả thân tâm, bị nhiễu vọng động ám muội, bị phiền não chướng bức bách, bị nghiệp báo ác hoành hành mà khéo thuyết giảng Chánh Pháp, chính là con đường Trung Đạo đưa chúng sinh đến bờ giải thoát Giác ngộ, theo đó nhận biết liễu đạt định luật vô thường đến biến thiên của tự nhiên, vũ trụ: Thành, Trụ, Hoại, Không, và luân hồi của nhân sinh; Sinh, Lão, Bệnh, Tử. Nhận thức rõ thực chất: “Đâu là thiện, đâu là bất thiện; đâu có tội, đâu không có tội, đâu cần phải tuân theo, đâu cần phải tránh né; đâu là hạ liệt, đâu là cao thượng; đâu là đen, trắng, đồng đẳng đã được Thế Tôn khéo thuyết giảng.” (Kinh Trường A Hàm). Từ đây mỗi một hành giả chúng ta phương tiện diệu dụng tinh hoa của Chánh Pháp vào cuộc sống tu học, tu hành tỉnh thức thường nhật, để đem lại Phước lành, An định, Tuệ giác và Giải thoát cho chính mình và nhân sinh trên con đường Trung Đạo - Tự giác - Giác tha - Giác hạnh viên mãn.

“Ai thấm nhuần Chánh Pháp

 

Người ấy Tâm an định

 

Người Trí vui Chánh Pháp

 

Do Bậc Thánh thuyết minh.”

(Kinh Pháp Cú: 79)

Trang Ảnh

Pháp Âm

Thống kê

Hiện có 6 khách đang trực tuyến

33

2939

92206

 

Âm lịch

Copyright @ 2009-2010 Chùa Kỳ Viên Trung Nghĩa
132 Sinh Trung, Nha Trang, Khánh Hòa, Việt Nam
Điện thoại: +84.58.3827197; 3500252
Cố Vấn: Hòa Thượng Thích Trí Viên | Biên Tập: ĐĐ. Thích Huệ Pháp
Thư điện tử xin gởi về: huephap@gmail.com
Ghi rõ địa chỉ nguồn "kyvientrungnghia.com" khi đăng lại từ trang web này