Trong mỗi tôn giáo có cách nhìn riêng đối với nữ giới, có những lời khen ngợi trong kinh của tôn giáo này, nhưng trong tôn giáo khác lại là những lời chê. Hầu hết các tôn giáo từ khi thành lập cho đến tận ngày nay vẫn còn nhiều điều bất công đối với phụ nữ.
Các tôn giáo đã xác định vị trí của nữ giới như thế nào? Hình ảnh của họ được mô tả như thế nào trong giáo lý, trong giáo luật của các tôn giáo? Có năm tôn giáo lớn trên thế giới mà chúng ta có thể tìm hiểu là: Phật giáo, Cơ đốc giáo, Do thái giáo, Hồi giáo và Ấn độ giáo.
1. Phật giáo
Trong xã hội thời đức Phật, thân phận phụ nữ được xem như là thuộc đẳng cấp thứ tư - đẳng cấp nô lệ - trong hệ thống 4 đẳng cấp thời bấy giờ. Suốt đời họ chỉ có mỗi việc là phục vụ cho người khác. Vai trò của họ đối với xã hội thua thiệt rất nhiều so với đàn ông. Khi sinh ra và lớn lên, họ phải chịu sự giám sát của cha mẹ, phục vụ cha mẹ, chỉ biết nghe lời. Khi lấy chồng, phục vụ chồng, con và gia đình chồng, nếu chồng chết thì phải chịu sự quản chế của con trai. Hầu như họ không có một sự lựa chọn cuộc sống cho chính bản thân mình.
Đức Phật đã làm một việc khó làm vào lúc ấy là giải phóng thân phận người phụ nữ, đưa họ trở về với chính mình. Chính Ngài đã tuyên bố: Người phụ nữ có khả năng giải thoát, chứng ngộ tri kiến. Nếu người phụ nữ đi theo con đường giải thoát, họ có thể đạt đến niết bàn như đàn ông.
Chính đức Phật đã xác định điều này khi ngài A Nan hỏi Phật: Không biết nữ nhân sau khi xuất gia, từ bỏ gia đình... có thể chứng được quả Dự lưu, quả Nhất lai, quả Bất lai hay quả A la hán không?
Này Ananda, sau khi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng, nữ nhân có thể chứng được Dự lưu quả, Nhất lai quả, Bất lai quả hay A la hán quả - đức Phật trả lời.
Trong kinh Bộ Tăng Chi, đức Phật đã dạy về sự bình đẳng của Tăng chúng xuất gia như sau:
‘Ví như, này Paharada, phàm có các con sông lớn nào, ví như sông Hằng, sông Yamunà. sông Aciravatì, sông Sarabhù, sông Mahì, các con sông ấy khi chảy đến biển, liền bỏ tên họ trước, trở thành biển lớn. Cũng vậy, này Pahàràda, có bốn giai cấp này: Sát đế ly, Bà la môn, Phệ xá, Thủ đà, sau khi từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia trong pháp và luật được Như Lai tuyên bố này, chúng từ bỏ tên và họ của chúng từ trước, và chúng trở thành những Sa môn Thích tử’.
Trong giáo lý Phật giáo, chúng ta dễ dàng tìm thấy những lời khen ngợi tán dương người phụ nữ, những người làm mẹ, làm vợ rường cột hạnh phúc của một gia đình. Kinh Tăng chi bộ, đức Phật khuyên con cái phải kính trọng cha mẹ trong nhà, vì theo Ngài, cha mẹ ngang bằng với Phạm Thiên: Này các Tỳ kheo, Phạm Thiên đồng nghĩa với mẹ cha. Các Đạo sư thời xưa đồng nghĩa với mẹ cha. Mẹ và cha là những bậc đáng cúng dường. Vì cớ sao? Cha mẹ giúp đỡ con cái, nuôi nấng, dưỡng dục chúng, dẫn dắt chúng vào đời.
Ngài luôn luôn cổ vũ cho tinh thần bình đẳng giữa nam và nữ. Ngài đã dạy về 5 nghĩa vụ của người chồng đối với người vợ như sau: Một là yêu thương vợ. Hai là không khinh rẻ vợ. Ba là mua tặng vợ những vật dụng thiết yếu, trang sức, quần áo. Bốn là ở trong nhà để vợ được tự do. Năm là chăm sóc vợ như chính bản thân mình.
2. Cơ Đốc giáo
Trong Genesis 3.16 – Chúa Sáng Tạo Thế Giới - tức phần đầu của kinh Cựu Ước, Yahwel đã nguyền rủa người phụ nữ như sau: ta sẽ nhân đôi gấp bội phần sự đau khổ của mi khi mang thai, khi sinh con và sự ham muốn của Mi sẽ thuộc về chồng mi…
Chúng ta dễ dàng tìm thấy những đoạn trích dẫn trong kinh Thánh nói về sự áp đặt đối với phụ nữ. Trong Timothy 2.11-12, có đoạn: hãy để phụ nữ học cách im lặng với tất cả sự khuất phục… hay trong Ephesian 5.22-24, thánh Paul có nói: người vợ phải luôn phục tùng người chồng của mình.
Những quan tòa dị giáo người Đức mô tả phụ nữ như là những người thiếu trí thức, kém cỏi về triết học, không có khuynh hướng tự chủ bản thân, và thường hay bốc đồng. Sự phân biệt đối xử bất công với phụ nữ là một phần không thể thiếu đối với xã hội Cơ đốc giáo và Do thái giáo ngay trong cả thời buổi hiện nay.
Sự thống khổ của phụ nữ dưới chế độ cơ đốc giáo đã được biết là không giới hạn, chẳng hạn như: bị ép lấy người mình không yêu, hàng ngàn phụ nữ bị thiêu sống sau khi bị cho là những phù thủy. Họ cũng bị thiêu sống vì những tội như: cãi lại lời giới tăng lữ, ăn cướp, mãi dâm, thủ dâm, thông dâm, có con ngoài giá thú…
Và hiện nay, đàn ông tiếp tục thống trị hệ thống tổ chức trong giáo hội Cơ đốc giáo, còn phụ nữ vẫn tiếp tục là những người làm không công cho nhà thờ.
3. Đạo Do Thái.
Kinh Cựu Ước là bộ kinh mà người Do Thái giáo kính trọng sặc mùi lăng mạ người phụ nữ. Những đàn ông mộ đạo luôn luôn chống lại những ai tôn thờ Nữ thần. Theo nhà tiên tri Ezekiel và Hosea, chuyện thờ kính nữ thần cổ đại cũng đồng nghĩa với sự bội tín, yêu thuật. Theo kinh Cựu Ước, người phụ nữ sẽ bị ném đá đến chết nếu mất sự trinh trắng. Nhưng nếu người đàn ông cưỡng hiếp họ, hắn chỉ cần bồi thường 50 đồng tiền bạc cho nạn nhân. Sau đó, nạn nhân còn bị ép buộc lấy kẻ đã cưỡng hiếp mình làm chồng, mà theo lý giải của kinh Cựu Ước là để giảm bớt sự hổ thẹn của nạn nhân…
Trong chương 5, Kinh Cựu Ước, chúng ta tìm thấy phần nói về sự ghen tuông của người chồng. Nếu người vợ ghen, thì không thành vấn đề. Nhưng ngược lại, nếu người chồng ghen vợ mình thì anh ta đem vợ mình tới các nhà tu sĩ, những người này sẽ kiểm tra lòng trung thành của người vợ bằng cách lấy nước pha với chất dơ dưới đất, nếu người vợ không phát bệnh sau khi uống thì đều đó chứng tỏ cô ta vô tội.
Trong thời gian gần đây, các giáo sĩ Do Thái giáo đã so sánh chuyện một người phụ nữ phơi bày tóc của mình, không dùng khăn che đầu cũng giống như việc phô bày những phần kín của thân thể. Họ cho rằng, tóc của người phụ nữ có thể gây kích thích tính dục. Họ cũng cấm việc cầu nguyện khi có sự hiện diện của phụ nữ để lộ đầu trần.
Cũng trong kinh cựu ước, khi nàng Eva hái trộm trái cấm, thượng đế đã có lời nguyền rằng: (Genesis 2:4-3:24) ta sẽ khiến cho nhà ngươi phải chịu đau đớn khi mang thai và càng đau hơn khi sinh nở. Sự ham muốn của nhà ngươi sẽ được dành cho chồng nhà ngươi và luôn phải chịu sự khuất phục trước chồng nhà ngươi. Chúng ta không thể tin rằng thượng đế lại nói những lời như thế. Thậm chí đến ngày nay, những người Do Thái mộ đạo luôn lặp lại lời cầu nguyện của họ: kính lạy đức chúa trời, người đã không khiến con trở thành phụ nữ. Theo truyền thống Do Thái giáo, người chồng sở hữu vợ mình như sở hữu người hầu trong nhà. Người chồng có thể li dị vợ mình bất cứ lúc nào họ muốn, nhưng chuyện ngược lại hầu như không được phép.
4. Hồi giáo.
Chúng ta có thể tìm thấy những ngôn ngữ mỹ miều, tuyệt đẹp trong kinh của các tôn giáo, và ngược lại chúng ta cũng nhận ra những lời lẽ ngột ngạt, nặng trĩu thậm chí kinh hoàng dành cho phụ nữ cũng trong các kinh tương tự. Người ta nói rằng, kinh của đạo Hồi chỉ trích phụ nữ một cách mạnh mẽ nhất. Đạo Hồi xem phụ nữ thấp kém về tinh thần, thể chất, đạo đức và trí tuệ. Điều này được tin một cách tuyệt đối trong kinh Koran - một bộ kinh được cho rằng không thay đổi dù một chữ từ khi đạo Hồi thành lập cho đến ngày nay.
Tiến sĩ Nawa Sa’dawi, một phụ nữ Hồi giáo đã can đảm chống lại những điều mà tôn giáo của mình chống lại phụ nữ. Bà đã viết rằng, thật khó mà nói về quyền lợi của người phụ nữ khi mà dưới chế độ cưới hỏi của đạo Hồi, phụ nữ chẳng khác nào là người nô lệ. Hôn nhân là tiến đến sự nô lệ, người phụ nữ phụ thuộc và vâng lời tuyệt đối vào người chồng.
Nhà tiên tri Mohammed đã nói rằng: không có tai ương đem đến cho loài người hơn là sự hiện diện của nữ giới. Hồi giáo là tôn giáo chỉ dành cho đàn ông… Kinh Koran cũng nói rằng một người đàn ông được có 4 người vợ và nhiều người hầu hạ. Trong khi đó, phụ nữ chỉ có một chồng và không có quyền ly dị.
Các nhà Hiền triết Hồi giáo có quyền lực mạnh đến nỗi những nguyên tắc họ đưa ra được các nước theo đạo hồi tuân theo như là một quy phạm pháp luật. Đó là lý do, dân chúng của các nước này thường không có bất kỳ sự phản kháng nào ngay cả trong suy nghĩ của họ. Đó là lý do mà kiến thức, văn hóa, kinh tế ở các nước theo đạo Hồi chính thống đã và đang đình trệ, nạn mù chữ thì có lẽ cao nhất trên thế giới.
Các nhà thần học Hồi giáo đã tuyên bố rằng, đàn ông là một sáng tạo nguyên gốc, còn phụ nữ được tạo ra để thỏa mãn thú vui của đàn ông. Al-Ghazzali, nhà triết học tôn kính của tất cả tín đồ theo chủ nghĩa sô vanh đã định nghĩ vai trò của phụ nữ như sau: Phụ nữ nên ở nhà và làm công việc nhà, không nên ra ngoài thường xuyên, không được tán gẫu với hàng xóm láng giềng, chỉ thăm viếng láng giềng khi thật cần thiết. Đối với chồng, phải chăm sóc và luôn làm thỏa mãn chồng mình tất cả những gì chồng muốn, không được ngoại tình và moi tiền của chồng. Ra khỏi nhà phải có sự cho phép của chồng, nếu chồng cho phép phải biết hổ thẹn khi ra ngoài, không được vứt bỏ quần áo cũ, không ở nơi đường vắng người và đường hẻm, tránh chợ búa, không được để người lạ nghe và nhận ra tiếng nói của mình. Không được nói chuyện với bạn của chồng. Sự quan tâm duy nhất của phụ nữ là đức hạnh của mình, gia đình mình cùng những buổi cầu kinh và ăn chay…
5. Đạo Hindu (Ấn độ giáo)
Theo Manu, nhà làm luật nổi tiếng của Ấn Độ: nếu người vợ tự hào về dòng tộc hay sự ưu tú, làm trái với trách nhiệm mà thượng đế đã ban cho họ thì vị vua sẽ phạt cô ấy bằng cách cho chó cắn và bêu trước mọi người. Chính Bà La Môn giáo đã phá hủy phẩm giá người phụ nữ, tịch thu tài sản của họ, ép họ về khoản hồi môn, nhốt phụ nữ trong nhà và không cho họ đi học để họ trong tình trạng mù chữ. Rất nhiều tập tục cưới hỏi đáng sợ của Bà la môn giáo thịnh hành đến ngày nay. (Prabhat R.Sarkar viết).
Những trang phục và trang sức mà phụ nữ Ấn mang ngày nay đều thể hiện sự nô lệ của họ như các loại vòng phụ nữ mang là dấu hiệu họ là người không có tự do. Trong các cuộc chiến họ cũng bị mang theo ra chiến trường, và họ cũng bị đánh đập tàn nhẫn. Dấu vạch đỏ trên đầu họ ở giữa 2 ngôi tóc thể hiện cho điều đó. Giờ đây người phụ nữ vẫn phải đánh dấu đỏ đó để biết rằng cô ấy đã lập gia đình.
Trong các kinh điển Hindu cũng công bố rằng sống cuộc sống của một trinh nữ là điều xấu xa. Vì thế không có gì ngạc nhiên một cô bé chín tuổi buộc phải kết hôn cùng người chồng già cả sắp chết. Sau khi chồng chết kinh thánh được xưng tụng để người nữ tin rằng cô ấy chỉ dành riêng cho người chồng, người nữ không được phép có cuộc sống mới hay tái hôn.
Kinh Điển Hindu giáo phỉ báng phụ nữ cũng như những kinh điển khác mà chúng ta đã chứng kiến ngày nay. Trong Kinh Vệ Đà (10-95-10) nói rằng: tình bạn của người nữ không bền lâu. Bản chất của họ giống như con linh cẩu. Manu miêu tả phụ nữ như là đồ trang sức, họ có những mong muốn dơ bẩn, nhiều sân hận, không tử tế, hiểm độc và đạo đức tồi. Trong Atharva Veda có đoạn kinh nói rằng: thượng đế trao người vợ cho người chồng để họ phục vụ chồng và sinh con. Hơn nữa cô ấy được quy là kẻ lệ thuộc và nô lệ (Atharva Veda 14.01,52). Bà La môn giáo là tôn giáo mà ở đây người phụ nữ bị coi như là cặn bã. Trong Puranas nói rằng: “… giống như người đồ tể không thỏa mãn với việc sát hại không biết bao nhiêu động vật, cũng giống vậy phụ nữ có thể có nhiều người nam.” Các tư liệu Bà La Môn giáo ghi rằng họ thật sự căm ghét người nữ, gọi họ là kẻ cắp, thổ phỉ, hải tặc… Trong một đoạn kinh Thánh nói: có tám phẩm chất của người phụ nữ, đó là: nói láo trắng trợn, cẩu thả, lừa dối, ngu xuẩn, tham lam, dơ bẩn, tinh quái và hấp tấp” (Sukra 3 – 163).
Trong Mahabharata, (anusasana Parava, phần 38), sử thi nổi tiếng về tôn giáo Ấn, có nguyên một chương trong đó Apsara mô tả chi tiết về đặc tính người phụ nữ và nói về các căn nguyên của các vấn đề như thế nào và họ tìm kiếm những người đàn ông khác như thế nào, cho dù chồng họ có tốt đi chăng nữa. Như thế nào? Vì đó, một phụ nữ không được đáng được tự do vì họ chưa bao giờ trung thực. Chúng ta có thể đọc được những dòng này ở mọi nơi trên đất Ấn.
Thật khó khăn cho phụ nữ phải chịu đựng mặc cảm tự ti, căn bệnh tâm lý để đến gần Đấng tối cao. Cô ấy bị giới hạn trong suy nghĩ: tôi sinh ra trong thân phận thấp hèn, không có nhân quyền, làm thế nào để tôi có thể đến gần Đấng tối cao. Những nhà cơ hội tuyên bố rằng phụ nữ không được cứu rỗi và nếu họ muốn được điều đó họ phải tái sanh là một người nam…. Đây là một điều phi xã hội và hoàn toàn vi phạm vào tính nhân đạo.
Hơn 5000 phụ nữ bị giết mỗi năm vì không đưa thêm tiền hồi môn. Phụ nữ Aryan có thể bị thiêu bởi người chồng bất cứ lúc nào vì bất kỳ lý do gì. Nếu cô ấy bị nghi ngờ không chung thủy thì các chức trách trong làng buộc họ phải đi qua ngọn lửa. Họ bị trừng phạt bằng cách cho chó cắn trước sự chứng kiến của công chúng. Thể thức món hồi môn đã là tập tục tại Ấn Độ từ thời Veda cách đây vài ngàn năm.
Có thể nói rằng, thân phận phụ nữ đã bị hạ thấp phẩm giá một cách tệ hại hàng ngàn năm qua khi các tôn giáo này ra đời. Đến thời kỳ đức Phật ra đời, Phật giáo được thành lập, vai trò của nữ giới mới được chứng nhận là có thể bình đẳng về mặt tâm linh như đàn ông, có thể chứng ngộ và giải thoát. Ngoài ra, nữ giới còn có thể trở thành đàn ông nếu họ muốn, trong kinh đức Phật đã dạy như thế, trong khi các tôn giáo khác phụ nữ không thể trở thành đàn ông qua nhiều kiếp sống. Đức Phật đã đưa người nữ từ vị trí thấp hèn trong xã hội lúc bấy giờ trở thành biểu tượng đáng kính trong xã hội – Giai cấp tu sĩ.
Tuy thế, các tôn giáo khác, ngày nay vẫn tiếp tục duy trì sự bất bình đẳng đối với phụ nữ, cho dù chính phủ các nước này ra sức tạo ra sự bình đẳng giữa các giới, nhưng các nhà tôn giáo vẫn không muốn từ bỏ vị trí độc tôn của mình, vị trí thượng đẳng của kẻ cai trị - nam giới.
Tham khảo:
1. Garda Ghista, the status of Women in World Religions, may 2001 /http://www.worldproutassembly.org/archives/2005/05/the_status_of_w.html.
2. Thích nữ Huệ Hướng, Địa vị phụ nữ trong giáo lý đức Phật / http://www.Buddhasasanabudsas_muniu-diavi-phunuphunu1.htm
3. Dr.Hellmuth Hecker, Man and Woman in the Teachings of the Buddha/ http://womenshistory.about.com
4. Buddhism and Women, position of Women at the time of the Buddha/ http://womenshistory.about.com





33
2939
92206
