Văn tế thập loại chúng sinh (文祭十類眾生) còn gọi là Văn chiêu hồn (文招魂) hay Văn tế chiêu hồn (文祭招魂) là một trong những tác phẩm xuất sắc của đại thi hào Nguyễn Du (1766-1820).
Theo Từ điển Văn học người đầu tiên phát hiện bài Văn tế thập loại chúng sinh tại chùa Diệc, ở thành phố Vinh là Lê Thước. Nhưng cổ nhất là bản khắc ván năm 1895, của nhà sư Chính Đại (nên được gọi là bản Chính Đại), được tàng trữ ở chùa Hưng Phúc, xã Xuân Lôi, huyện Võ Giàng, tỉnh Bắc Ninh. Từ hai bản này, Hoàng Xuân Hãn khảo chứng, hiệu đính kỹ lưỡng và đã đưa ra một văn bản khác có độ tin cậy cao hơn...
Văn tế thập loại chúng sinh là một bài văn khấn tế, đề cập đến xã hội hồn ma một cách thảm thương nhất. Đó là hình ảnh lộn trái của xã hội trần thế, song khác biệt cơ bản ở chỗ không có đối lập giàu nghèo, sang hèn, không phân biệt tôn giáo, đảng phái. Chúng sinh ai cũng như ai cùng chịu cảnh đọa đày, oan khuất và cô đơn nên nhà thơ xót thương tất cả... Tác phẩm được làm theo thể song thất lục bát, gồm 184 câu thơ chữ Nôm:
Tiết tháng bảy mưa dầm sùi sụt
Lọt hơi sương lạnh buốt xương khô
Não người thay bấy chiều thu
Ngàn lau khảm bạc, giếng ngô rụng vàng
Đường bạch dương bóng chiều man mác
Ngọn đường lê lác đác mưa sa
Lòng nào lòng chẳng thiết tha
Cõi dương còn thế, nữa là cõi âm
Các nhà nghiên cứu văn học như Thanh Lãng, Phạm Thế Ngũ, Thạch Trung Giả, Xuân Diệu, Đặng Thị Hảo, Lê Thước... đều có chung nhận xét: Nguyễn Du là người có trái tim lớn “chứa được bấy nhiêu tình thương nhân loại” và xã hội Lê mạt chính là nguồn nung nấu để hình thành nên tác phẩm...
Trong trường dạ tối tăm trời đất
Xót khôn thiêng phảng phất u minh
Thương thay Thập loại chúng sinh
Phách đơn hồn chiếc lênh đênh quê người
Hương lửa đã không nơi nương tựa
Phận mồ côi lần lữa đêm đen
Còn chi ai khá ai hèn
Còn chi mà nói ai hiền ai ngu!
Theo Phạm Thế Ngũ: “Bài này là dịp cho ta thấy nơi Nguyễn Du có một năng khiếu tưởng tượng phi thường hòa với một tình đồng cảm bao la. Những trường hợp chết chóc, bao nhiêu cảnh ngộ thương vong, tác giả phác họa ra, khêu gợi lên với những tình tiết lâm li thảm thiết... Cảnh loạn lạc…nhất là bệnh dịch, phu phen, mất mùa, đói khổ, người chết như rạ là một ám ảnh tai ách thường xuyên ở đời Lê mạt... Chính những thảm cảnh ấy đã là nguồn văn nguồn ý nung nấu thành Chiêu hồn ca... Nó khiến ta có thể xác định: Nguyễn Du là thi sĩ muôn đời của Thống khổ và Tình thương”
Kiếp phù sinh như hình bào ảnh
Có câu rằng: Vạn cảnh giai không
Ai ai lấy Phật làm lòng
Tự nhiên siêu thoát khỏi trong luân hồi
Đàn chẩn tế theo lời Phật giáo
Vật có gì, lưng cháo nén hương
Gọi là manh áo thoi vàng
Giúp cho làm của đăng đàng siêu thiên
Nhà thơ Xuân Diệu nhận xét về Văn tế thập loại chúng sinh: “Trong nền thơ Việt Nam ta từ trước, có một tác phẩm rất độc đáo về đề tài, hầu như là duy nhất, nói đến những người chết, nói đến cái chết dưới trăm tình thế, chưa có bài thơ nào mà tập trung nói đến những hồn người chết như vậy - và thực chất lại là sự bao trùm rộng rãi những người sống - đó là Văn Chiêu hồn... ”
Tiết đầu thu lập đàn giải thoát
Nước tỉnh đàn sái hạt dương chi
Muôn nhờ đức Phật từ bi
Giải oan cứu khổ, độ về Tây phương
…
Sống đã chịu một đời phiền não
Thác lại nhờ hớp cháo lá đa
Đau đớn thay phận đàn bà,
Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu?
Ở thời đại ấy... Nguyễn Du không biết tại sao mà xã hội khổ đến thế. Bây giờ ta không trách Nguyễn Du về điều này, Nguyễn Du kêu gào ở trong bóng tối, cũng là phát hiện bóng tối cho ta:... đó là một bản tố cáo gắt gao về đói rét, tật bệnh, chiến tranh, phong kiến giành giật đất đai, mưu ma chước quỉ của bọn quan lớn, về thân phận người đàn bà, số phận người bình dân... do đề tài phong phú, mà cả xã hội phơi bày trước mắt ta... Còn trái tim lớn của Nguyễn Du, một tấm lòng chứa được bấy nhiêu tình thương nhân loại! Tình thương ấy có xô bồ, lẫn lộn nhưng phần lớn, căn bản là dành cho những người bị cực khổ, oan ức, đói rét, đau đớn từ những người bị bọn vua quan bắt lính, đến người mắc oan ở tù rục thân, người hành khất “cũng một kiếp người”, từ người đẻ non đến em bé chết yểu, người đứt dây rơi xuống giếng chết đến người bị cọp ăn... ”
Nào những kẻ mão cao áo rộng
Ngòi bút son thác sống ở tay
Kinh luân chất một xải đầy
Đã đêm Quản Cát, lại ngày Y Chu
Thịnh mãn lắm, oán thù càng lắm
Trăm loài ma xắm nắm chung quanh
Nghìn vàng khôn chuộc được mình
Lầu ca viện xướng tan tành còn đâu
Gs. Trương Chính viết về Văn tế thập loại chúng sinh: Trong Văn tế chiêu hồn, Nguyễn Du có dịp gợi lên những hình ảnh đau xót của thời đại ông. Có những người ở tầng lớp trên, nhưng đa số là những người ở tầng lớp dưới. Trong tầng lớp trên thì lòng thương của ông dành cho những người “chân yếu tay mềm”, do hoàn cảnh thời bấy giờ mà đang sống trong cảnh “màn lan trướng huệ” bỗng chốc bơ vơ như chiếc lá giữa dòng. Còn tầng lớp dưới thì có thể nói là đủ mặt, từ người học trò ốm đau dọc đường không ai thuốc thang nuôi nấng, đến chết phải “liệm sấp chôn nghiêng”… đến những em “tiểu nhi tấm bé” vừa ra đời không được chăm sóc, nên phải chết yểu v.v... Bài này đọc lên không biết cô hồn nghe có được an ủi phần nào chăng, nhưng chúng ta nghe thì càng thấy đau khổ cái xã hội mà trong đó đa số là những người thất cơ lỡ vận...
Kẻ thân thích vắng sau vắng trước
Biết lấy ai bát nước nén hương
Cô hồn thất thưởng dọc ngang
Nặng oan, khôn lẽ tìm đường hóa sinh
Kìa những kẻ bài binh bố trận
Đổi mình vào cướp ấn nguyên nhung
Gió mưa sấm sét đùng đùng
Phơi thây trăm họ nên công một người.
Cũng có người sẩy cối sa cây
Có người leo giếng đứt dây
Người trôi nước lũ kẻ lây lửa thành.
Người thì mắc sơn tinh thủy quái
Người thì sa nanh sói ngà voi
Có người hay đẻ không nuôi
Có người sa sẩy có người khốn thương.
Gặp phải lúc đi đường lỡ bước
Cầu Nại Hà kẻ trước người sau
Mỗi người một nghiệp khác nhau
Hồn xiêu phách lạc biết đâu bây giờ? …
Phần cuối văn tế là lời thỉnh cầu phép Phật nhiệm mầu giúp cho họ được giải thoát. Cuối cùng là lời mời các cô hồn tới nhận phần lễ cúng để lên đàng thăng thiên...
Phật hữu tình từ bi phổ độ
Chớ ngại rằng có có không không
Nam mô Phật, Nam mô Pháp, Nam mô Tăng
Độ cho nhất thiết siêu thăng thượng đài.
Thật là thâm thúy, sâu sắc, đức Phật từ bi vô ngại, kính lạy Phật, kính lạy Pháp, và kính lạy Tăng, xin độ cho tất cả chúng sinh đều được siêu thăng chín phẩm đài sen, đều thành Phật đạo.
“Văn tế thập loại chúng sinh” tuy là một bài văn tế, hình thức mang tính chất tôn giáo trong văn học Việt Nam, nhưng tác phẩm không sử dụng văn biền ngẫu thường thấy, cũng không viết bằng văn xuôi như “Thập giới cô hồn quốc ngữ văn” của vua Lê Thánh Tông, mà chọn thể loại song thất lục bát khiến vần điệu linh hoạt, truyền cảm, có tác dụng khơi dậy lòng trắc ẩn đối với người đọc, người nghe. Nếu bài văn của vua Lê nặng nề giáo huấn răn đe thì “Văn tế thập loại chúng sinh” của Nguyễn Du tràn ngập tình yêu thương, thông cảm, thấm đẫm chất nhân văn, sẻ chia tình người... Ngoài một vài phương ngữ và điển tích nhà Phật, nói chung bài văn tế dễ hiểu, dễ cảm thụ, bởi giọng thơ cuộn chảy, mênh mang, trào dâng theo những biến tấu bất ngờ của nhịp câu song thất. Văn Chiêu hồn được đánh giá là tác phẩm song thất lục bát duy nhất sử dụng dày đặc và rất độc đáo thủ pháp tiểu đối.., là bài văn tế bất hủ luôn sống mãi trong lòng mọi người.. đúng là “thi sĩ muôn đời của Thống khổ và Tình thương”.
Nha Thành - Vu Lan, tháng Bảy Kỷ Mão - 2011





28
2934
92201
