Hiếu nghĩa nghìn đời trọng

Tác giả: Hoàng Minh

ơn mưa lất phất đầu mùa đã khép lại khung trời nắng hạ, luồng gió nhè nhẹ mang theo khí trời lành lạnh đầu Thu thoảng qua, như có gì man mác khiến tâm trạng mỗi chúng ta bỗng dưng bùi ngùi xúc động, lặng nhìn những áng mây trôi ngang trời khi ánh hoàng hôn buông xuống, góc chân trời ửng hồng sau những rặng núi xa xăm, thăm thẳm lùm cây rừng lao xao bên khu đồi trong làn gió vi vu gợi cho ai đó chợt nhớ lại cảnh thi gia Nguyễn Khuyến ngồi câu cá:

“Ao thu lạnh lẽo nước trong veo

Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo

Sóng nước theo làn hơi gợn tí

Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo.”

“Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo” chính là hình ảnh báo hiệu Mùa thu đến. Đông qua Xuân đến, Hạ đi Thu về, là lẽ tự nhiên thường tình trong trời đất. Nhưng trong chỗ thường tình đó lại chứa đựng một “Phi thường tình” mang đầy chuẩn mực thiêng liêng ngàn đời không đổi. Chính là Mùa Thu của Tình mẹ, hay còn gọi là Mùa Báo Hiếu, hoặc Lễ hội Vu Lan Báo Hiếu.

Tình mẹ là áng “Thiên cổ Tình ca” bao trọn tinh hoa của trời đất. Tình mẹ là Thiên tánh bẩm sinh từ Vũ trụ. Vốn là bản thể tự nhiên nên Tình Mẹ không bao giờ mai một và cạn kiệt theo thời gian. Vì Tình mẹ bao la bất tận nên chẳng bị không gian nhỏ hẹp hạn buộc. Cũng như cây cối mọc ở rừng sâu, không người tưới nhưng cây vẫn cao lớn, lá vẫn xanh tươi đời này sang đời khác. Như sông ngòi ngày đêm mải miết chảy ra biển cả không hề dứt, kiếp này qua kiếp nọ. Chỉ khi nào nước biển cạn sạch, rừng không lá xanh, mặt đất không đứng được thì khi đó Tình mẹ mới phai mờ.

 Làn gió thu đã lịm dần, phút giây đó khiến chúng ta bỗng trở về thực tại. Trong lúc chúng ta nhấc tách trà nhấp vào miệng tại nơi này, cũng là thời điểm hàng triệu người mẹ già đang chịu cảnh khổ đau trong những khoảnh trời khác chốn. Hàng vạn người cứ mải miết với đời sống nhọc nhằn tìm miếng cơm manh áo mà bỏ mặc mẹ già, không con cái trông nom, ngó ngàng đến. Tất cả chúng ta đều vướng vào vòng luẩn quẩn đó. Và, những tư tưởng cao đẹp, những lý tưởng hùng tráng, những tình cảm thiêng liêng sâu nặng cũng bị vòng luẩn quẩn không lối ra đó quấn níu chặt. Hay nói cách khác, chúng ta đều bị cuốn sâu trong dòng “Sanh tử luân hồi” theo thuyết nhà Phật, khiến chúng ta ra đời cứ theo lối mòn “Sanh tử, tử sanh” mà nối nghiệp. Cho nên, cha mẹ sinh con cái, nuôi dưỡng, cho ăn học, dựng vợ gả chồng, rồi con cái suốt ngày đi làm ăn, rồi già, rồi hiu quạnh cho đến mỏi mòn rồi chết. Cứ thế tiếp tục, con cái lớn lên cũng sinh con đẻ cái tiếp tục như thế, đời này tiếp nối đời sau, đời sau tiếp nối đời sau nữa, đời sau nữa tiếp nối đời sau nữa, cho đến mười đời, trăm đời, vạn đời, đến vô cùng vô tận không còn tính đếm được, cuộc sống chúng ta như chiếc vòng tròn không đầu mối, cứ xoay đến xoay đi, đến đi đi đến cũng không ngoài vòng “Sống, chết”. Cũng như chúng ta đứng trên đỉnh núi cao nhìn xuống, thấy rõ tất cả các cảnh bên dưới, nào là sông ngòi, làng mạc, nào là hoa kiểng xanh tươi, nào là người mua kẻ bán, nào là người học tập, kẻ chơi bời,… Qua nhiều năm nhìn lại, quả là một chặng đường mệt mỏi, nhà nào bán cháo lòng thì suốt đời cứ theo nghề cháo lòng mưu sinh, nhà nào làm nông, gặt lúa thì suốt đời cứ bám theo nghiệp làm nông, gặt lúa mưu sinh, nhà nào làm Gara sửa xe thì suốt đời cứ bám theo nghề sửa xe, thành phần nào theo nghiệp bác sĩ, hay nhà nghiên cứu khoa học, hoặc nhà văn, nhà thơ thì cứ thế đều vin vào nghề nghiệp của mình để mưu sinh, người nào đạp xích lô, ba gác nếu không cải thiện thì cũng ôm nghiệp cũ quanh năm, những người làm trong cơ quan hành chính sự nghiệp, hoặc các công ty thì cứ sáng 7 giờ đi làm, trưa về nghỉ, chiều làm rồi tối về lo cơm nước, cuộc sống như thế kéo dài năm này qua năm nọ, không gì thay đổi. Những điều ấy, chứng tỏ cuộc sống chúng ta luôn bị nghề nghiệp làm ăn chi phối, hay nói đúng hơn, trong mọi thời đại chúng ta luôn bị thế lực đồng tiền đè nặng. Những gia đình “Thế phiệt trâm anh” muốn gì được nấy thì không nói, bên cạnh đó, muôn vạn gia đình phải sáng nắng khuya sương vẫn không đủ ăn, ngày cày đêm cuốc vẫn không đủ mặc, huống chi có điều kiện tiếp cận với sự học hành. Không tiếp cận học hành thì kém về mặt giáo dục, nhân, nghĩa, lễ, trí không biết đến thì Hiếu, đễ, liêm, sĩ sao rành. Cho nên, muôn việc ở đời cứ lặp lại chuỗi ngày thường tình “làm ăn sinh sống”. Thấy cuộc đời tầm thường đó, tâm trí chúng ta có buồn không. Cụ Nguyễn Du trước khi khứ thế còn nuối tiếc ngâm nga:

 “Bất tri tam bách dư niên hậu

 Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như.”

(Không biết ba trăm năm lẻ nữa

Thiên Hạ ai người khóc Tố Như.)

 Sống không tới trăm tuổi mà nghĩ tới người đời hơn ba trăm năm sau, cùng nghĩa với việc “Thập niên thụ mộc, bách niên thụ nhân” (Mười năm trồng cây, trăm năm trồng người). Tức người xưa, những người đã từng trải nghiệm và thấm thía với những đắng cay của cuộc đời đều không chùn bước trước số phận hẩm hiu, hoặc những cảnh đời nghiệt ngã đem đến cho mình, những người trí đó không hề né tránh khó khăn mà luôn đối đầu, kham nhẫn để thành công, trước khi từ giã cõi đời này họ mong muốn để lại gì đó cho cuộc đời, tô điểm thêm “Càn khôn”.

Vì lẽ ấy, nếu ai chịu khó mỗi ngày bớt chút thời gian dành cho mình, tìm hiểu những giá trị sâu đậm thiêng liêng, cao quý trong cuộc sống ngay chính mình, tạo nên khung trời mới trong tâm thức mình, thì khi đó mỗi chúng ta mới cảm nhận cuộc đời này là nên phải “kham nhẫn chịu đựng” và phấn đấu để có tinh thần mạnh mẽ và khiến cuộc sống ngày càng đổi mới thêm phần hương sắc. Tức là chúng ta sống trong cuộc sống tầm thường nhưng tâm hồn chúng ta không hề tầm thường trong cuộc sống. Để thay đổi cuộc đời thì tinh thần mỗi chúng ta không thể không thay đổi. Tinh thần không lớn mạnh thì không thể làm nên việc lớn, ý chí không bền vững thì không thể chịu đựng nghịch cảnh đầy cam go, lao nhọc. Để có tinh thần mạnh, ý chí lớn, kham nhẫn nghịch cảnh, phấn đấu xây dựng thành công không thể không có Cội gốc vững chắc vin vào. Cội gốc vững chắc ấy chính là Hiếu.

Con người là hạt nhân trong vũ trụ, là tâm điểm để muôn vật hướng vào. Kỳ quan trong vũ trụ là muôn vàn, nhưng trong đó kỳ quan nổi bậc nhất vẫn là Hiếu Đạo. Có câu danh ngôn: “Trong Vũ trụ, kỳ quan đẹp nhất chính là Trái tim người mẹ”.

Trong cuộc đời, ai biết đến tình cha nghĩa mẹ là người con hiếu thảo với đấng sinh thành, luôn được mọi người kính mến. Gia đình có con cái hiếu thảo thì gia trang sum vầy, yên hòa hưng thịnh; gia đình có con cái bất hiếu thì cửa nhà tan nát, “huynh đệ tương tàn”. Để giữ gìn mái ấm gia đình, để cuộc sống luôn hạnh phúc, thì Hiếu Đạo là thần phương diệu dược mà mỗi chúng ta không thể không uống. Khi uống được “tiên phương” này thì chúng ta hiểu được Công ơn sâu dầy của cha mẹ sinh thành. Muốn hiểu rõ, hãy tìm đến kinh điển nhà Phật, như kinh Vu Lan Bồn. Hoặc “Phụ mẫu ân trọng nan báo kinh”, hoặc kinh Địa Tạng,… đều ca ngợi tinh thần Hiếu đạo vang thấu cửu thiên của những người con chí Hiếu muốn cứu mẹ mình thoát khỏi chốn tội đồ.

Trong “Phụ Mẫu Ân Trọng Nan Báo Kinh” (kinh Cha mẹ ơn nặng khó báo đền) đức Phật diễn thuật những nỗi khổ đau, lao nhọc của người mẹ mang thai con, sanh thành dưỡng dục, đến khi trở thành bộ xương khô nằm ngoài đồng hoang giá lạnh, đã chỉ cho những người con thấy được cảnh khổ sầu đó của người mẹ. Từ đó, người con mới hiểu là thương yêu mẹ cha. Kinh đó đã xuất hiện thời đức Phật, theo thế gian ngót 3000 năm, vẫn giữ nguyên giá trị tôn quý. Đức Phật thí dụ: Nếu người con nào chịu trăm ngàn mũi giáo xuyên vào thân thể suốt ngày, từ kiếp này qua kiếp nọ, cũng không thể nào báo đền được công ơn sanh thành dưỡng dục của cha mẹ. Đủ thấy Ân tình sâu nặng của cha mẹ dành cho chúng ta lớn đến cỡ nào. Con đường Báo Hiếu cha mẹ hiệu quả và ngắn gọn là mỗi người chúng ta ý thức được bản tâm Hiếu kính dành cho cha Mẹ. Phát huy trí tuệ tự thân, tìm hiểu mọi trí tuệ thế gian, thâm nhập trí tuệ xuất thế gian, hay thâm nhập kinh điển Hiếu Đạo nhà Phật, giúp cha mẹ, thân bằng quyến thuộc quay về chỗ trí tuệ bình đẳng như Phật nói, để từ đó, bản thân mình, cha mẹ mình không đi vào con đường tội lỗi, khổ đau trên nhân thế, khi chết thần hồn đến cõi tội đồ nơi Âm phủ.

Khoa học ngày càng phát triển, cũng đã nói đến vấn đề linh hồn cõi âm, thì Âm phủ tức có, nhưng vẫn còn nhiều tranh biện nên không khẳng quyết. Bằng chứng, chúng ta thấy, kinh Báo Hiếu diễn tả lúc mẹ mang thai từ tháng thứ nhất đến tháng thứ mười, tường tận rõ ràng mà không dựa vào dụng cụ siêu âm nào. Tức là tuệ nhãn đức Phật thấu suốt mọi vật, mọi lý luận trong chốn “Tam thiên đại thiên thế giới” này. Phật nói có Thiên tào, Địa phủ (Âm ty) và các loại quỷ thần khác, thì chắc chắn có. Kinh điển đức Phật đã nói thì có thật, các trí giả, quan chức lớn, ngay cả trụ sở các quan chức cao cấp Liên Hiệp Quốc tìm hiểu, khâm ngưỡng và công nhận, huống chi là chúng ta. Phật nói kinh về Hiếu đạo là nền tảng xây dựng thế giới Hòa bình, bốn biển an lạc. Người đi theo con đường Phật là trưởng tử của Phật, cầm ngọn đuốc trí tuệ Phật truyền lại cho đời chính là người Đại Hiếu. Là người có năng lực báo hiếu cha mẹ và báo hiếu đức Phật.

Người con có hiếu theo hạnh Phật, thì yêu thương mọi người như yêu thương cha mẹ mình, thì được mọi người yêu kính, không có tranh cãi, ghét nhau, như kinh Viên Giác, Phật nói: “Thiện nam tử, mạt thế chúng sanh bất đắc thành đạo, do hữu vô thỉ, tự tha tắng ái nhất thiết chủng tử, cố vị giải thoát. Nhược phục hữu nhân, quán bỉ oan gia như kỷ phụ mẫu, tâm vô hữu nhị, tức trừ chư bệnh. Ư chư pháp trung tự tha tắng ái diệc phục như thị.”

(Này thiện nam (Bồ-tát Phổ Giác), chúng sanh đời sau chưa được thành đạo là do có tất cả chủng tử yêu ghét từ trước kia đến nay, nên vẫn chưa được giải thoát. Nếu lại có người, xem những oan gia khác như cha mẹ của mình, tâm không có hai thì liền dứt trừ các bệnh. Việc yêu ghét mình và người khác ở trong các pháp cũng đều như thế.)

 Rằm tháng bảy, ngày hội Báo Hiếu, là ngày hội của những người con Phật noi theo hạnh Hiếu của đức Mục-Kiền-Liên tìm muôn nghìn cách cứu khổ mẹ hiền chịu nhục hình tại cõi Địa ngục. Cũng chính ngày này, đã trở thành ngày hội báo hiếu truyền thống khắp cả nước, và nhiều quốc gia theo Phật giáo khắp thế giới. Ngày này, mỗi người mỗi vẻ mặt rạng rỡ mừng vui đến chùa, nghe âm nhạc ca ngợi về tình mẹ, nghe thuyết giảng về kinh Báo Hiếu, khung cảnh và tâm trạng mỗi người như chuẩn bị được gặp lại cha mẹ sau những ngày tháng trần lao vất vả, và đồng thời như được gặp lại ông bà, cha mẹ bấy lâu khuất bóng cũng về sum vầy với con cháu. Đây là ngày thiêng liêng nhất để chúng ta tưởng niệm đến Tình cha nghĩa mẹ, hoặc có cha mẹ những ai đã qua đời, bằng tâm thành kính tha thiết thỉnh mời cha mẹ về với con cái, để cha mẹ lúc nào cũng ở bên con cái, động viên, khuyến khích. Vì Cha mẹ là những người từng trải trong cuộc sống, “Sương gió phong trần, dạn dày kinh nghiệm”. Dù cha mẹ mất theo luật tuần hoàn của vũ trụ, nhưng đâu đó bóng hình mẹ cha, mong rằng vẫn luôn hiện hữu bên con. Tuy chúng ta đều biết cảm giác khi cha, mẹ trút hơi thở cuối cùng lìa khỏi đời này là nỗi tan thương đau lòng nhất, nên những ai còn có cha mẹ, không thể không tranh thủ báo ân cha mẹ qua nhiều hình thức. Đừng để khi cha mẹ lìa trần, nức nở thắp tuần hương muộn màng hối tiếc, dẫu sau này muốn thấy bóng hình cha, muốn nghe lời ru của mẹ, muôn kiếp ngàn đời cũng không hề có lại. Mặc may, chỉ luyến lưu trong ký ức của những người con biết đoái hoài, nhớ trong thương tưởng. Khi sống chúng ta hờ hững việc báo ơn trả hiếu, đến khi chết quên hương bỏ khói, lại còn chém giết tranh giành gia tài, phá bỏ tổ tiên, đó là một đại tội ngũ nghịch, bất hiếu cha mẹ, không phụng thờ tổ tiên khi đã khuất, không kính trọng, quan tâm cha mẹ lúc tuổi yếu già là kẻ bất hiếu. Tương lai, theo luật nhân quả ắt phải lãnh chịu trăm đường đau khổ.

Hiểu Hiếu, là hiểu tâm tư Phật tổ, Tại gia tôn cha kính mẹ, thờ ngưỡng Tổ đường. Bậc xuất gia báo hiếu cha mẹ cũng như thế, nhưng lại đảm nhậm trọng trách nặng hơn, gánh vác sự nghiệp Như Lai Phật Tổ, hoằng dương chánh Pháp, lưu truyền Hiếu Đạo, phiên dịch Kinh tạng, truyền thừa Pháp bảo, làm cho Phật Pháp hưng thịnh, trụ lâu nơi đời. Dốc lòng như thế suốt kiếp cũng không thể nào đền ơn Phật tổ, đáp bốn ân sâu, cũng là một cách báo ân đáp nghĩa cho song đường.

 Cho nên, con đường xiển dương Phật Pháp, được chư Tổ sư đặt hàng đầu trong mọi thời đại, dù vất vả không sờn, khó khăn không lùi bước, quyết làm tới cùng, thời thay thế đổi gót cũng không lui. Đó là lòng tin kiên cố hướng về Pháp lớn, Pháp lớn là Đại thừa, Xiển dương Đại-thừa là xiển dương Đại Hiếu. Vì thế, niềm tin về Hiếu Đạo, niềm tin về Pháp Đại thừa của chư Tổ là tuyệt đối, như Chứng Đạo ca của Thiền sư Huyền Giác:

Nhật khả lãnh, Nguyệt khả nhiệt

Chúng ma bất năng hoại chân thuyết

Tượng giá tranh vanh mạn tiến đồ

Thùy kiến đường lang năng cự triệt?

Đại tượng bất du ư thố kính,

Đại ngộ bất câu ư tiểu tiết.

Mạc tương quảng kiến báng thương thương,

Vị Liễu ngô kim vị quân thuyết.

(Mặt trời dù lạnh, mặt trăng nóng

Chúng ma không thể phá Phật pháp

Xe voi dốc ngược vững đường lên

Bọ ngựa làm sao ngăn bước được?

Voi chúa đâu thèm đi lối thỏ,

Đại ngộ sá chi những tiểu tiết

Xin đừng phỉ báng Tối thượng thừa,

Chưa biết, vì anh bảo cho biết.)

(Nguồn trích: Thơ Thiền Đường Tống - Tác giả Đỗ Tùng Bách)

Trăng lên, những vì sao lấp lánh trong bầu trời đêm thật lung linh huyền ảo, gió nhẹ thoảng ngang, hương hoa đất trời dường như hội tụ, cả càn khôn như quyện hòa thành một thể. Vui thay, những ai tròn chữ Hiếu. Mừng thay, những ai còn Cha mẹ. Hạnh phúc ư! Mẹ cha đà khuất bóng! Yên vui chăng! Cha mẹ già bỏ mặc làm ngơ! 

Trang Ảnh

Pháp Âm

Thống kê

Hiện có 4 khách đang trực tuyến

27

2933

92200

 

Âm lịch

Copyright @ 2009-2010 Chùa Kỳ Viên Trung Nghĩa
132 Sinh Trung, Nha Trang, Khánh Hòa, Việt Nam
Điện thoại: +84.58.3827197; 3500252
Cố Vấn: Hòa Thượng Thích Trí Viên | Biên Tập: ĐĐ. Thích Huệ Pháp
Thư điện tử xin gởi về: huephap@gmail.com
Ghi rõ địa chỉ nguồn "kyvientrungnghia.com" khi đăng lại từ trang web này