Người con Phật luôn đặt nền tảng hiếu hạnh lên hàng đầu mà cổ đức thường dạy: “Thiên kinh vạn quyển, Hiếu nghĩa vi tiên” tạm dịch; “Ngàn cuốn kinh, vạn cuốn sách luôn đặt chữ hiếu lên hàng đầu”. muốn làm được như vậy thì phải biết nhớ ơn để rồi báo ơn của một người con hiếu hạnh.
Hiếu hạnh là một chuẩn mực đạo đức, là nhân tố phát khởi và trưởng dưỡng Bồ đề tâm. Sự trưởng thành của một cá nhân chính là sự kết tinh của nhiều yếu tố. Những yếu tố này chính là những mối thâm ân của bao kiếp sống của con người. Trong Khuyến Phát Bồ Đề Tâm Văn có ghi: “Thử Bồ đề tâm chư thiện trung vương, tất hữu nhân duyên phương đắc phát khởi, kim ngôn nhân duyên lược hữu thập chủng. Hà đẳng vi thập? Nhất giả niệm Phật trọng ân cố; nhị giả niệm Phụ ân cố; tam giả niệm Sư trưởng ân cố; tứ giả niệm thí chủ ân cố; ngũ giả niệm chúng sanh ân cố; lục giả niệm tử sanh cố; thất giả tôn trọng kỷ linh cố; bát giả sám hối nghiệp chướng cố; cửu giả cầu sanh Tịnh độ cố; thập giả vị niệm Chánh pháp đắc cửu trụ cố.”
Nghĩa là: Bồ đề tâm là vua đối với mọi pháp thiện, ắt phải có lý do mới phát khởi, lý do ấy nay tóm lược có 10 điều: Một là nghĩ đến ân trọng của Như Lai; hai là nghĩ đến công lao sanh thành dưỡng dục của cha mẹ; ba là nghĩ đến công ơn dạy dỗ của Thầy; bốn là nhớ đến ơn của tín chủ; năm là nhớ ơn của chúng sanh; sáu là nhớ nỗi khổ sanh tử; bảy là biết tôn trọng tánh linh của mình; tám là nhớ đến nghiệp chướng mà sám hối; chín là tha thiết cầu sanh về Tịnh độ; mười là làm sao cho Chánh pháp được tồn tại lâu dài.
Đây là mười điều trong Văn Khuyến Phát Bồ Đề Tâm, nhắc đến những trọng ân mà mọi người con Phật phải nghĩ, và tìm mọi cách để báo đền những trọng ân ấy. Đó chính là hiếu hạnh, trong đạo Phật vậy. Ở đây chúng tôi chỉ nói trong giới hạn hiếu hạnh trong phạm vi đối với công ơn sanh thành dưỡng dục của cha mẹ, và báo đền công ơn ấy mà thôi.
Sự Hiếu hạnh này, được biểu hiện qua hình ảnh đức Phật từ phụ của chúng ta, lúc Đản sanh làm thái tử Tất Đạt Đa con vua Tịnh Phạn và Hoàng Hậu Ma Da cho đến lúc tu hành thành bậc Chánh Đẳng Giác.
Khi còn ấu thơ, thái tử Tất Đạt Đa hết lòng hiếu kính với phụ hoàng Tịnh Phạn và di mẫu Ma Ha Ba Xà Ba Đề, bằng cách Thái tử đã nỗ lực học hành, trau dồi đức hạnh. Phấn đấu không ngừng để trở thành một thái tử mẫu mực của dòng họ Thích Ca. Ngài rất tinh thông về văn chương, triết học, võ thuật, trước các bậc Thầy dạy lão luyện thời bấy giờ. Mọi người đều ngợi khen, cúi đầu thán phục trước tài năng và phẩm hạnh của thái tử, làm cho vua cha Tịnh Phạn vô cùng phấn khởi, tự hào, và tràn đầy niềm tin vào người con nối nghiệp tương lai của mình.
Nhưng, Thái tử Tất Đạt Đa không chịu dừng lại ở đóa hoa hiếu hạnh mẫu mực của cuộc sống đời thường, mà theo tiếng gọi thiêng liêng cao cả sâu thẳm của con tim, với những cảnh sanh - già - bệnh - chết của kiếp người, trước quy luật nghiệt ngã. Sự hủy diệt của luật vô thường, Ngài quyết định ra đi để tìm con đường giải thoát những khổ đau đè nặng lên kiếp sống con người: “Vì chịu sanh - già - bệnh - chết, phiền não và nhiễm ô, Ta đã nhận thức được sự bất lợi của những điều ấy.” (Kinh A Hàm). Rồi, Ngài lặng lẽ vượt thành xuất gia tìm đạo. Từ đó, Ngài đã mở ra một trang sử cho đạo Phật, một bước ngoặc trọng đại về đời sống tâm linh, cũng như đạo hiếu đối với nhân loại.
Bằng con đường tuệ giác với lòng hiếu hạnh của Ngài sau khi chứng đạo, đức Phật đã ngự lên cung trời Đao Lợi vì Thánh mẫu Ma Da mà nói pháp, khai mở kinh Địa Tạng Bổn Nguyện. Tế độ cho thánh mẫu Ma Da (đấng sanh thành), đồng thời giáo hóa cho hàng chư Thiên, Long thần bát bộ cùng hết thảy Thánh phàm, sau đó Ngài trở về cung vua độ cho Vua cha, Di mẫu và các quan cận thần trong triều, gây những hạt giống tốt lành của chánh pháp. Đức Thế Tôn đã khai thị về đạo lý vô thường, vô ngã và duyên sinh của vạn vật, bằng con đường quán chiếu và thực tập tỉnh thức để đưa đến diệt khổ sanh - già - bệnh - chết, cũng như muôn ngàn nỗi khổ khác của đời sống an lạc và giải thoát. Và khuyên mọi người thực hành thiền quán để chuyển hóa tâm linh, xây dựng một đời sống hướng thượng, hạnh phúc, giải thoát ngay trong hiện tại.
Bên cạnh đó, hiếu hạnh theo đức Khổng Tử được nhìn theo bình diện của cử chỉ, sắc thái đạo lý làm người, bằng việc đơn thuần là gần gũi bên cha mẹ, vâng lời cha mẹ, lo lắng cho mẹ cha đầy đủ về vật chất. Lúc cha mẹ ốm đau, thì hết lòng chăm sóc, thuốc thang, hỏi han, động viên, an ủi. Khi cha mẹ quá vãng quy tiên, thì lo tang chế, tống táng chu toàn qua chuyện “Nhị thập tứ hiếu”.
Đối với người Việt thì ảnh hưởng Tam giáo đồng nguyên là Khổng giáo, Lão giáo và Phật giáo, nên quan niệm hiếu hạnh hơi khác hơn. Đó là cần phải quan tâm đến đời sống tinh thần của cha mẹ. Nếu cha mẹ có gì sai trái, phận làm con phải nhẹ nhàng giải thích cho cha mẹ thấu hiểu, không vì chiều theo ý của cha mẹ mà đi ngược lại đạo lý làm người. Nếu cha mẹ là kiểu người mẫu mực đạo đức, phận làm con phải noi gương cha mẹ, phấn đấu làm rạng danh tông tổ, cho thỏa lòng đẹp ý mẹ cha, lúc cha mẹ quá vãng thì lo ma chay cầu siêu. Song, còn bảo vệ cho đất nước là đại hiếu. Như câu chuyện Nguyễn Trãi là con trai của Nguyễn Phi Khanh, lúc Nguyễn Phi Khanh bị nhà Minh bắt, giải về Trung Quốc, Nguyễn Trãi đi theo Nguyễn Phi Khanh để sớm hôm hầu hạ cha già, cho tròn hiếu hạnh. Trước tình cảnh ấy, Nguyễn Phi Khanh đã gọi Nguyễn Trãi đến và bảo: “Con là người có học, có tài, nên tìm cách rửa nhục cho nước, trả thù cho cha. Như thế mới là đại Hiếu. Chứ đâu phải cứ lẽo đẽo theo cha, khóc lóc như thế mới là tôi trung con hiếu”. (Nguyễn Trãi ngôi sao Khuê của văn hóa Việt Nam - Văn Tâm)
Nhìn chung dưới góc độ nhìn hai dẫn chứng trên, chúng ta thấy rằng: Hiếu hạnh ở thế gian mang nhiều hình thức, nhiều sắc thái, còn hiếu hạnh trong đạo Phật được nâng lên tầm cao mới, đó là: Đạo Hiếu mang sắc thái xuất thế gian, không những dạy con người phải biết cách ứng xử cho hợp lẽ đạo, với bản tánh thuần lương, bổn phận làm con đối với cha mẹ, mà còn được đặt trên nền tảng tu tập để vượt ra khỏi biển sanh tử đến bờ Giải Thoát - Giác Ngộ. Đức Phật dạy:
“Nỗ lực, chớ phóng dật
Hãy sống theo chánh hạnh
Người chánh hạnh hưởng lạc
Cả đời này đời sau”
(PC. 168)
Như vậy, Hiếu hạnh trong đạo Phật được nhìn nhận và vận hành dưới Tuệ Giác của đức Phật Thích Ca Mâu Ni, không những thỏa mãn tiêu chí của đạo lý làm người, mà còn xây dựng một đời sống hướng thượng giải thoát cho các đấng sanh thành dưỡng dục nhiều đời nhiều kiếp qua kinh Vu Lan Bồn. Và mục đích cuối cùng là đem lại cho chính bản thân, song thân hưởng một đời sống hạnh phúc thật sự. Muốn được như vậy, thì không còn con đường nào khác hơn là phải thực hành theo chánh pháp, vượt khỏi dòng sông luân hồi sanh tử, đặt chân lên mảnh đất an lạc - Niết Bàn. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là đấng Đạo Sư đầu tiên trong lịch sử xã hội loài người nâng hiếu hạnh lên một tầm cao mới, khai sáng đạo Phật trên tinh thần vô ngã và vị tha, đưa con người tu tập đi đến bờ Giác ngộ - Giải thoát vậy.





27
2933
92200
