“Tuổi thơ tôi là những buổi chiều được lên chùa, được chơi đùa cùng với các Chú, được nhìn thấy ánh mắt trìu mến của Thầy giống hệt ánh mắt của vị Phật đang ngự trên tòa sen, miệng tủm tỉm cười mãi không thôi….”
Không hiểu sao hôm nay tôi lại trằn trọc không chợp mắt ngủ được? Đầu óc tôi cứ miên man, nhớ về những gì đã diễn ra và trôi đi lặng lẽ trong cuộc đời mình. Về những kỷ niệm êm đềm của tuổi thơ, những kỷ niệm in đậm dấu ấn trong tâm hồn một cô bé con ngây thơ hồn nhiên.
Và rồi từng dòng kí ức lại quay về, tôi cảm thấy như được sống lại những ngày thơ ấu ấy. Tôi nhớ như in cái ngày đầu tiên, cái giây phút nôn nao, háo hức của lần đầu tập tễnh bước đôi chân bé xíu vào chùa. Ngôi chùa thuở ấy đơn sơ mộc mạc và rừng rậm hơn nhiều so với ngày nay, cả đến bữa cơm chay được ăn ở chùa cũng đơn sơ lắm, thường chỉ có vài ba miếng tàu hủ kho với tương đậu nành do chùa sản xuất.
Cùng với tôi khi ấy là những người bạn Chi - Phi - Nhật và đặc biệt là chú Điệu tên Nước. Chúng tôi mỗi người ở mỗi xóm, ba bạn kia ở xóm cắt kiếng, tôi ở xóm Hà Ra, Chú ở xóm chùa Núi nhưng lại học cùng lớp và ngồi cùng bàn với nhau, thế mới lạ chứ. Mỗi sáng đi học chúng tôi đều tập trung quân số dưới chân chùa, đợi Chú xuống rồi cùng nhau tung tăng đến trường. Ngày ấy, cái đám tứ quái chúng tôi luôn bị các bạn hay mấy anh chị lớn chêu chọc, mấy đứa kia sao ngày nào cũng đi chung với thầy chùa con vậy? Nghe mà tức anh ách, chúng tôi muốn tiến tới dằn mặt những kẻ đã chọc mình nhưng Chú thì lại im lặng bỏ đi. Bóng chiều buông xuống là tứ quái chúng tôi lại hẹn hò nhau ôm sách vở lên chùa học bài cùng mấy Chú. Mà phải công nhận nha! Mấy Chú lớn giỏi thiệt đó, có nhiều phương pháp giảng bài thật hay. Nhất là Chú Du, Chú luôn chỉ bày chúng tôi cách cầm bút và viết như thế nào, làm sao cho chữ thật đẹp, vở thật sạch. Chú bảo “nét chữ là nét người” nên các con phải cố gắng. Rồi Chú kêu bọn tôi nhặt những chiếc lá Bồ Đề trước sân chùa đem lồng ghép vào các bài toán cộng trừ thật lý thú và dễ hiểu. Sau giờ học, chúng tôi theo các Chú lớn từng đứa chia nhau đi tưới cây, quét rác. Mà bọn con nít chúng tôi, làm thì ít nhưng ngược lại phá phách và la hét thì nhiều nên lần nào cũng bị Thầy Cả gõ đầu hết (mà hay nha, lúc nào Thầy cũng thủ sẵn trong tay áo cây thước nhỏ bằng gỗ rồi đi lòng vòng quanh chùa, hễ đứa nào la hét là y như rằng “dính chưởng thước đầu gõ “của Thầy). Các Chú khi ấy cũng không ngoại lệ, ngược lại còn là tấm gương cho bọn con nít chúng tôi noi theo, bởi thế mà lúc ấy tôi rất ư sợ Thầy, thấy Thầy ở đâu là tôi chạy cách xa chừng vài ba mét.
Mà vui thiệt, Thầy hay gõ đầu chúng tôi, còn con Khỉ xấu xí (tên Núi) kia lại được Thầy cưng chiều hết mức, lúc nào cũng cho nó ăn, lại còn sờ đầu nữa chứ! Có lần tôi đang cầm trên tay khúc mía vừa “hè” từ mâm cô hồn Thầy cúng xong, hí hửng đến ngồi bệt dưới gốc cây si định hưởng thụ chiến lợi phẩm mình vừa dành được, thì bất ngờ con khỉ từ trên cây lao xuống cướp mất khúc mía của tôi, không chịu thua tôi giằng co lại. Con khỉ mạnh hơn hất tay tôi ra khỏi, lại còn dở cái thói giang hồ lấy khúc mía gõ đầu tôi sưng chù vù một cục, đau quá trời luôn. Thầy nghe khóc, lên tiếng: “đứa nào khóc đó”, tôi thuật lại sự việc, Thầy bật cười, lại còn bảo rằng “người mà đi dành ăn với khỉ, xấu hổ chưa!”. Cơn tức ấy đã nóng nay lại càng hừng hực sôi hơn. Thế là tôi hạ quyết tâm, sẽ tìm cách phục thù con Núi đáng ghét kia, nhưng hình như cái suy nghĩ đó đã bị Thầy đoán được, Thầy sờ đầu tôi rồi nhẹ nhàng khuyên bảo: “con hãy biết sẻ chia và yêu thương mọi loài mọi vật xung quanh con, đây là một bài học bổ ích cho con”. Nghe Thầy dỗ dành, tôi phần nào dịu đi cơn tức, ánh mắt Thầy khi ấy thật nhẹ nhàng, khác hẳn với lúc cầm roi. Tôi lại miên man rằng: thường ngày Thầy nghiêm khắc thế kia ai dè Thầy lại có lúc hiền từ, trìu mến.
Như mạng mạch đạo pháp, lời dạy ấy của Thầy giờ đây đã bén rễ ăn sâu vào tâm thức tôi. Tuổi thơ tôi là những buổi chiều được lên chùa, được vui đùa với các Chú, được nhìn thấy ánh mắt hiền từ của Thầy giống hệt ánh mắt của vị Phật nhiều màu sắc (ngày ấy tôn tượng Thích Ca nhiều màu lắm, không như bây giờ một màu vàng uy nghi) đang ngự trên tòa sen, mắt nhìn xuống như nhìn tôi, miệng tủm tỉm cười mãi không thôi.
Trời đã gần sáng rồi mà tôi vẫn chưa ru mình vào giấc ngủ được. Tôi mơ về ngôi chùa tuyệt đẹp và an bình mà mỗi đêm tiếng chuông chùa thường ru tôi vào giấc ngủ say nồng không mộng mị. Ở nơi ấy chỉ có niềm an lạc vĩnh hằng còn lại cho tâm hồn mỗi người... Có một ngôi chùa như thế, lại tọa lạc trên đỉnh núi Sinh Trung uy nghi hùng vĩ và nằm vươn mình giữa lòng thành phố biển đầy tráng lệ, còn là nơi để trưởng dưỡng đạo tâm của quý Bác, của các anh chị ở khắp nơi tề tựu về. Là nơi tu học, khơi mạch nguồn trí tuệ của ánh sáng Đạo Vàng cho tổ chức GĐPT và cũng là nơi ưu ái trong tinh thần “vô phân biệt” của Tâm kinh: đẹp - xấu - giàu nghèo - thân sơ… cứ mỗi lần cảm thấy lòng mình bất an, tôi lại lắng lòng dưới tôn tượng Bồ Tát Quán Thế Âm để chiêm nghiệm, để sám hối, để nguyện cầu. Mỗi lần như thế tôi thấy lòng mình thanh thản đến lạ lùng, vì tâm tôi yên vui thì lòng tôi lại càng khinh an hơn. Chùa Núi là nơi che chở tuổi thơ tôi rong chơi an lành thì cũng sẽ là nơi cho tôi nương tựa đầy bình yên giữa bao phong ba đời thường.
“Tiếng chuông ngân nga, thong thả từng hồi
Mái ngói thâm nâu dưới màn sương trắng
U tịch, thâm nghiêm trên ngọn đồi cao
Ngan ngát mùi hương hoa đại, hoa lan
Thanh khiết, linh thiêng như cõi Niết Bàn.”





25
2931
92198
