Có nhiều người quen, hoặc là đi chùa lâu năm có hiểu biết, hoặc chỉ mới có cảm tình, biết nhau qua các diễn đàn… có chung thắc mắc với mục đồng rằng “pháp danh” là cái gì, khi nào thì có được pháp danh ấy? Có người lại hỏi trực tiếp hơn: “Mục Đồng” có phải là pháp danh không? Thấy những câu hỏi này tuy đơn giản nhưng cũng có nhiều người cần tham khảo thêm, mục đồng xin mạo muội viết vài dòng chia sẻ vấn đề hơi riêng biệt này một tí. Nếu thiện hữu nào cảm thấy không vừa lòng thì xin hoan hỉ cho.
Trong truyền thống Phật Giáo Đại Thừa, khi người tín đồ phát tâm quy y Tam bảo để chính thức trở thành đệ tử Phật, vị thầy bổn sư sẽ đặt cho một tên mới gọi là pháp danh. Pháp danh của người Phật tử tại gia không có chữ Thích đi trước, mà chỉ có những chữ như Cư sĩ, Đạo hữu, Tín nữ, Phật tử … ở phía trước mà thôi.
Pháp danh gồm hai chữ: chữ trước chỉ sự liên hệ đến thế hệ trong môn phái, theo chữ trong bài kệ của vị Tổ môn phái đó; chữ thứ hai do vị Bổn sư tự chọn, dựa theo ý nghĩa tên tục (thế danh) của người đệ tử, để tạo thành một chữ kép mang ý nghĩa hay đẹp và có tính khuyến tu. Ví dụ, bác Phật tử tên Nguyễn Văn Thành, thì tùy theo thế thứ của vị thầy, pháp danh của bác ấy sẽ có thể là Quảng Đạt, Nhuận Công, Như Kính, v.v…
Hiện nay, Phật Giáo Việt
Một vị tổ sư truyền xuất ra một dòng kệ, thế hệ sau đó, có vị tổ sư đắc pháp lại xuất ra dòng kệ khác, tuy cùng nguồn mà khác chi. Đến các đời sau (như chúng ta hiện nay), việc truy nguyên lại nguồn gốc của một vị nào đó sẽ rất khó khăn nếu chúng ta chỉ biết vị ấy có mỗi cái Pháp danh.
Ví dụ, trên long vị thờ một vị Tỳ-kheo, có pháp danh là Quảng Nguyên chẳng hạn. Nếu không biết tông tích tiểu sử của vị này, căn cứ vào cái pháp danh ấy để truy nguyên, vị này có thể thuộc đến 4 dòng kệ khác nhau:
1. Dòng kệ của tổ Thiệt Diệu Liễu Quán:
Thiệt Tế Đại Đạo
Tánh Hải Thanh Trừng
Tâm Nguyên Quảng Nhuận
Đức Bổn Từ Phong
Giới Định Phước Huệ
Thể Dung Viên Thông
Vĩnh Siêu Trí Quả
Mật Khế Thành Công
Truyền Trì Diệu Lý
Diễn Xướng Chánh Tông
Hạnh Giải Tương Ưng
Đạt Ngộ Chơn Không.
2. Dòng kệ của tổ Vạn Phong Thời Ủy:
Tổ Đạo Giới Định Tông
Phương Quảng Chứng Viên Thông
Hạnh Siêu Minh Thật Tế
Liễu Đạt Ngộ Chơn Không
Như Nhật Quang Thường Chiếu
Phổ Châu Lợi Ích Đồng
Tín Hương Sanh Phước Huệ
Tương Kế Chấn Từ Phong.
3. Dòng kệ của Ngài Đạo Mân, đời thứ 31 dòng Lâm Tế:
Đạo Bổn Nguyên Thành Phật Tổ Tiên
Minh Như Hồng Nhật Lệ Trung Thiên
Linh Nguyên Quảng Nhuận Từ Phong Phổ
Chiếu Thế Chơn Đăng Vạn Cổ Huyền.
4. Dòng kệ của tổ Trí Thắng Bích Dung:
Trí Huệ Thanh Tịnh
Đạo Đức Viên Minh
Chơn Như Tánh Hải
Tịch Chiếu Phổ Thông
Tâm Nguyên Quảng Tục
Bổn Giác Xương Long
Năng Nhơn Thánh Quả
Thường Diễn Khoan Hoằng
Duy Truyền Pháp Ấn
Chánh Ngộ Hội Dung
Không Trì Giới Hạnh
Vĩnh Kế Tổ Tông.
Đối chiếu vào 4 dòng kệ trên, chúng ta đều thấy có chữ “Quảng”, như thế thì rất khó biết đích xác vị này thuộc đời thứ mấy của dòng thiền nào. Bên cạnh 4 dòng kệ trên, xin giới thiệu thêm các dòng kệ khác, cũng rất nỗi tiếng:
1. Dòng kệ của tổ Minh Hải Pháp Bảo, xuất kệ từ tổ đình Chúc Thánh, Quảng
Minh Thật Pháp Toàn Chương
Ấn Chơn Như Thị Đồng
Chúc Thánh Thọ Thiên Cửu
Kỳ Quốc Tộ Địa Trường
Đắc Chánh Luật Vi Tuyên
Tổ Đạo Hạnh Giải Thông
Giác Hoa Bồ Đề Thọ
Sung Mãn Nhơn Thiên Trung.
2. Dòng kệ của tổ Minh Hành Tại Toại (miền Bắc)
Minh Chơn Như Bảo Hải
Kim Tường Phổ Chiếu Thông
Chí Đạo Thành Chánh Quả
Giác Ngộ Chứng Chơn Thường.
3. Dòng kệ của tổTri Giáo Nhất Cú (tông Tào Động)
Tịnh Trí Viên Thông Tông Từ Tánh
Khoan Giác Đạo Sanh Thị Chánh Tâm
Mật Hạnh Nhân Đức Xương Lương Huệ
Đăng Phổ Chiếu Hoằng Pháp Vĩnh Trường.
Về sau này, có một số nơi khi đặt pháp danh cho Phật tử, quý thầy không căn cứ theo bài kệ nữa mà chọn một chữ trước để dùng chung cho tất cả, chỉ đặt thêm chữ sau. Trường hợp này, đa số nam cư sĩ có chữ Huệ, nữ cư sĩ thì chữ Diệu. Nhiều chùa tín đồ Phật tử quá đông, các kỳ tổ chức quy y thì rải rác, kéo dài năm này qua năm nọ, nên việc trùng pháp danh hàng loạt là điều chắc chắn.
Để đối phó, nhiều thầy chọn phương án là tăng thêm chữ (giống như thuê bao điện thoại quá tải thì thêm số 8, số 3, hoặc biển đăng ký xe cơ giới ở Việt Nam phải tăng lên 5 số), ví dụ như: Giác Minh Thường, Giác Minh Sang, hoặc Phật tử pháp danh Như Tâm Thảo, Như Tâm Chơn, v.v.
Khi trả lời “Mục đồng” chỉ là bút hiệu đặt cho vui, chứ không phải pháp danh, thì lại có người hỏi, thế thì pháp danh là gì? Và nghe nói còn có pháp tự, pháp hiệu nữa, sao mà rắc rối thế? Đúng là rắc rối thật. Một vị thầy tu theo Bắc tông Phật giáo hiện nay, phải có ít nhất tới 3 cái tên. Pháp danh thì thiêng liêng nhất, nên gọi là húy. Thầy Bổn sư của mục đồng thuộc đời 45 dòng Liễu Quán, mang chữ “Quảng”, như thế chữ trước của pháp danh mình đương nhiên là chữ “Nhuận” rồi. Có lẽ thấy mình viết văn tạm được, nên thầy cho chữ sau là “Văn”, thế là pháp danh thành “Nhuận Văn”.
Chuyên về lĩnh vực nghi lễ, tên húy chỉ dùng để xưng thành kính lên đức Phật hay Bồ tát mà thôi, còn như các việc khác, đối với các bậc xuất gia thì có pháp tự, pháp hiệu; đối với hàng tại gia thì có tự, hiệu. Do đó, mà Phật tử thường rất khó biết được pháp danh của quý Thầy, sư cô, nhất là các vị niên cao lạp trưởng. Một người đệ tử, hay thuộc hàng hậu bối, muốn nói lên pháp danh của thầy Bổn sư hay bậc trưởng thượng phải dùng thêm 2 chữ “thượng, hạ”.
Ví dụ, khi hỏi “Thầy của chú pháp danh gì?”, nếu thầy mình pháp danh Quảng Đạt, chú tiểu kia phải trả lời: “Thầy con pháp danh là thượng Quảng hạ Đạt” (tức không dám kêu tên thẳng, mà phải nói ngập ngừng thành hai chữ riêng biệt). Văn hóa kính Thầy trọng Đức trong nhà chùa là như thế!
Trên đây là trường hợp của Bắc tông Phật giáo, chứ như các vị Tỳ-kheo đệ tử Phật ngày trước, hay các sư Nam tông Khơ-me, lúc ở nhà tên gì thì khi đi tu, chứng A La Hán, thành Hòa thượng, vẫn một tên ấy thôi. Ví dụ, như tôn giả Mục Kiền Liên, Xá Lợi Phất, Hòa thượng Danh Nhưỡng, v.v…
Mở rộng ra, rồi thu hẹp lại, cũng chỉ xoay vần trong một cái tên. Tuy có đôi chút phiền hà, nhưng xưa đã bày thì nay phải biết, không biết thì làm sao mà ôn cố, làm sao mà tri tân?!





24
2930
92197
