Vấn đề đặt Pháp danh

Tác giả: Mục Đồng

 

Có nhiều người quen, hoặc là đi chùa lâu năm có hiểu biết, hoặc chỉ mới có cảm tình, biết nhau qua các diễn đàn… có chung thắc mắc với mục đồng rằng “pháp danh” là cái gì, khi nào thì có được pháp danh ấy? Có người lại hỏi trực tiếp hơn: “Mục Đồng” có phải là pháp danh không? Thấy những câu hỏi này tuy đơn giản nhưng cũng có nhiều người cần tham khảo thêm, mục đồng xin mạo muội viết vài dòng chia sẻ vấn đề hơi riêng biệt này một tí. Nếu thiện hữu nào cảm thấy không vừa lòng thì xin hoan hỉ cho.

Trong truyền thống Phật Giáo Đại Thừa, khi người tín đồ phát tâm quy y Tam bảo để chính thức trở thành đệ tử Phật, vị thầy bổn sư sẽ đặt cho một tên mới gọi là pháp danh. Pháp danh của người Phật tử tại gia không có chữ Thích đi trước, mà chỉ có những chữ như Cư sĩ, Đạo hữu, Tín nữ, Phật tử … ở phía trước mà thôi.

Pháp danh gồm hai chữ: chữ trước chỉ sự liên hệ đến thế hệ trong môn phái, theo chữ trong bài kệ của vị Tổ môn phái đó; chữ thứ hai do vị Bổn sư tự chọn, dựa theo ý nghĩa tên tục (thế danh) của người đệ tử, để tạo thành một chữ kép mang ý nghĩa hay đẹp và có tính khuyến tu. Ví dụ, bác Phật tử tên Nguyễn Văn Thành, thì tùy theo thế thứ của vị thầy, pháp danh của bác ấy sẽ có thể là Quảng Đạt, Nhuận Công, Như Kính, v.v…

Hiện nay, Phật Giáo Việt Nam có nhiều môn phái truyền thừa các dòng thiền khác nhau. Mỗi dòng như thế có một bài kệ tương ứng. Các dòng thiền chung quy thuộc hai dòng lớn: Tào Động (ở miền Bắc) và Lâm Tế (ở miền Nam). Nhiều vị Tổ tuy thuộc dòng thiền Lâm Tế, nhưng thực tế Pháp tu lại kiêm cả Tịnh Độ Tông và Mật Tông.

Một vị tổ sư truyền xuất ra một dòng kệ, thế hệ sau đó, có vị tổ sư đắc pháp lại xuất ra dòng kệ khác, tuy cùng nguồn mà khác chi. Đến các đời sau (như chúng ta hiện nay), việc truy nguyên lại nguồn gốc của một vị nào đó sẽ rất khó khăn nếu chúng ta chỉ biết vị ấy có mỗi cái Pháp danh.

Ví dụ, trên long vị thờ một vị Tỳ-kheo, có pháp danh là Quảng Nguyên chẳng hạn. Nếu không biết tông tích tiểu sử của vị này, căn cứ vào cái pháp danh ấy để truy nguyên, vị này có thể thuộc đến 4 dòng kệ khác nhau:

1. Dòng kệ của tổ Thiệt Diệu Liễu Quán:

Thiệt Tế Đại Đạo

Tánh Hải Thanh Trừng

Tâm Nguyên Quảng Nhuận

Đức Bổn Từ Phong

Giới Định Phước Huệ

Thể Dung Viên Thông

Vĩnh Siêu Trí Quả

Mật Khế Thành Công

Truyền Trì Diệu Lý

Diễn Xướng Chánh Tông

Hạnh Giải Tương Ưng

Đạt Ngộ Chơn Không.

2. Dòng kệ của tổ Vạn Phong Thời Ủy:

Tổ Đạo Giới Định Tông

Phương Quảng Chứng Viên Thông

Hạnh Siêu Minh Thật Tế

Liễu Đạt Ngộ Chơn Không

Như Nhật Quang Thường Chiếu

Phổ Châu Lợi Ích Đồng

Tín Hương Sanh Phước Huệ

Tương Kế Chấn Từ Phong.

3. Dòng kệ của Ngài Đạo Mân, đời thứ 31 dòng Lâm Tế:

Đạo Bổn Nguyên Thành Phật Tổ Tiên

Minh Như Hồng Nhật Lệ Trung Thiên

Linh Nguyên Quảng Nhuận Từ Phong Phổ

Chiếu Thế Chơn Đăng Vạn Cổ Huyền.

4. Dòng kệ của tổ Trí Thắng Bích Dung:

Trí Huệ Thanh Tịnh

Đạo Đức Viên Minh

Chơn Như Tánh Hải

Tịch Chiếu Phổ Thông

Tâm Nguyên Quảng Tục

Bổn Giác Xương Long

Năng Nhơn Thánh Quả

Thường Diễn Khoan Hoằng

Duy Truyền Pháp Ấn

Chánh Ngộ Hội Dung

Không Trì Giới Hạnh

Vĩnh Kế Tổ Tông.

Đối chiếu vào 4 dòng kệ trên, chúng ta đều thấy có chữ “Quảng”, như thế thì rất khó biết đích xác vị này thuộc đời thứ mấy của dòng thiền nào. Bên cạnh 4 dòng kệ trên, xin giới thiệu thêm các dòng kệ khác, cũng rất nỗi tiếng:

1. Dòng kệ của tổ Minh Hải Pháp Bảo, xuất kệ từ tổ đình Chúc Thánh, Quảng Nam:

Minh Thật Pháp Toàn Chương

Ấn Chơn Như Thị Đồng

Chúc Thánh Thọ Thiên Cửu

Kỳ Quốc Tộ Địa Trường

Đắc Chánh Luật Vi Tuyên

Tổ Đạo Hạnh Giải Thông

Giác Hoa Bồ Đề Thọ

Sung Mãn Nhơn Thiên Trung.

2. Dòng kệ của tổ Minh Hành Tại Toại (miền Bắc)

Minh Chơn Như Bảo Hải

Kim Tường Phổ Chiếu Thông

Chí Đạo Thành Chánh Quả

Giác Ngộ Chứng Chơn Thường.

3. Dòng kệ của tổTri Giáo Nhất Cú (tông Tào Động)

Tịnh Trí Viên Thông Tông Từ Tánh

Khoan Giác Đạo Sanh Thị Chánh Tâm

Mật Hạnh Nhân Đức Xương Lương Huệ

Đăng Phổ Chiếu Hoằng Pháp Vĩnh Trường.

Về sau này, có một số nơi khi đặt pháp danh cho Phật tử, quý thầy không căn cứ theo bài kệ nữa mà chọn một chữ trước để dùng chung cho tất cả, chỉ đặt thêm chữ sau. Trường hợp này, đa số nam cư sĩ có chữ Huệ, nữ cư sĩ thì chữ Diệu. Nhiều chùa tín đồ Phật tử quá đông, các kỳ tổ chức quy y thì rải rác, kéo dài năm này qua năm nọ, nên việc trùng pháp danh hàng loạt là điều chắc chắn.

Để đối phó, nhiều thầy chọn phương án là tăng thêm chữ (giống như thuê bao điện thoại quá tải thì thêm số 8, số 3, hoặc biển đăng ký xe cơ giới ở Việt Nam phải tăng lên 5 số), ví dụ như: Giác Minh Thường, Giác Minh Sang, hoặc Phật tử pháp danh Như Tâm Thảo, Như Tâm Chơn, v.v.

Khi trả lời “Mục đồng” chỉ là bút hiệu đặt cho vui, chứ không phải pháp danh, thì lại có người hỏi, thế thì pháp danh là gì? Và nghe nói còn có pháp tự, pháp hiệu nữa, sao mà rắc rối thế? Đúng là rắc rối thật. Một vị thầy tu theo Bắc tông Phật giáo hiện nay, phải có ít nhất tới 3 cái tên. Pháp danh thì thiêng liêng nhất, nên gọi là húy. Thầy Bổn sư của mục đồng thuộc đời 45 dòng Liễu Quán, mang chữ “Quảng”, như thế chữ trước của pháp danh mình đương nhiên là chữ “Nhuận” rồi. Có lẽ thấy mình viết văn tạm được, nên thầy cho chữ sau là “Văn”, thế là pháp danh thành “Nhuận Văn”.

Chuyên về lĩnh vực nghi lễ, tên húy chỉ dùng để xưng thành kính lên đức Phật hay Bồ tát mà thôi, còn như các việc khác, đối với các bậc xuất gia thì có pháp tự, pháp hiệu; đối với hàng tại gia thì có tự, hiệu. Do đó, mà Phật tử thường rất khó biết được pháp danh của quý Thầy, sư cô, nhất là các vị niên cao lạp trưởng. Một người đệ tử, hay thuộc hàng hậu bối, muốn nói lên pháp danh của thầy Bổn sư hay bậc trưởng thượng phải dùng thêm 2 chữ “thượng, hạ”.

Ví dụ, khi hỏi “Thầy của chú pháp danh gì?”, nếu thầy mình pháp danh Quảng Đạt, chú tiểu kia phải trả lời: “Thầy con pháp danh là thượng Quảng hạ Đạt” (tức không dám kêu tên thẳng, mà phải nói ngập ngừng thành hai chữ riêng biệt). Văn hóa kính Thầy trọng Đức trong nhà chùa là như thế!

Trên đây là trường hợp của Bắc tông Phật giáo, chứ như các vị Tỳ-kheo đệ tử Phật ngày trước, hay các sư Nam tông Khơ-me, lúc ở nhà tên gì thì khi đi tu, chứng A La Hán, thành Hòa thượng, vẫn một tên ấy thôi. Ví dụ, như tôn giả Mục Kiền Liên, Xá Lợi Phất, Hòa thượng Danh Nhưỡng, v.v…

Mở rộng ra, rồi thu hẹp lại, cũng chỉ xoay vần trong một cái tên. Tuy có đôi chút phiền hà, nhưng xưa đã bày thì nay phải biết, không biết thì làm sao mà ôn cố, làm sao mà tri tân?!

Trang Ảnh

Pháp Âm

Thống kê

Hiện có 1 khách đang trực tuyến

24

2930

92197

 

Âm lịch

Copyright @ 2009-2010 Chùa Kỳ Viên Trung Nghĩa
132 Sinh Trung, Nha Trang, Khánh Hòa, Việt Nam
Điện thoại: +84.58.3827197; 3500252
Cố Vấn: Hòa Thượng Thích Trí Viên | Biên Tập: ĐĐ. Thích Huệ Pháp
Thư điện tử xin gởi về: huephap@gmail.com
Ghi rõ địa chỉ nguồn "kyvientrungnghia.com" khi đăng lại từ trang web này