Thánh tích Phật Đà

Tác giả: Hữu Phước

 

Trong bầu vũ trụ u huyền rộng lớn trải hàng triệu năm đến nay, nhiều thiên niên kỷ, không ngừng biến đổi. Suốt quãng thời gian đó, dấu mốc lịch sử ấn tượng nhất, thiêng liêng nhất, âm vang và hình ảnh sống động nhất vẫn giữ nguyên giá trị bền vững, không thay đổi đến tận giờ này và mãi mãi về sau. Ngày truyền thống của tất cả những người tôn vinh nguồn “Trí tuệ siêu thắng” dành cho nhân loại nói riêng và muôn loài hữu tình nói chung. Đó chính là ngày Phật Đản Sanh.

Nhân ngày lễ Phật Đản, khâm ngưỡng về cuộc đời và sự nghiệp đức Phật, nên Ngài Huyền Trang phát nguyện: “Không thỉnh được kinh điển Đại Thừa thề không lùi gót”. Trải qua 110 nước, trên quãng đường đó, Pháp sư Huyền Trang có ghi lại dấu tích của đức Phật. Bắt đầu, từ chỗ Ngài Luận sư Giới Hiền dùng pháp Đại thừa bác bỏ tất cả các luận ngoại đạo đương thời, Vua A Dục thấy được tài đức của Ngài Giới Hiền nên cúng dường thành ấp, nhưng ông từ chối không nhận, thuyết phục mãi mới đành nhận.

 Thấy được tài đức Ngài Giới Hiền, Vua A Dục cúng dường thành ấp cho Ông, bèn đáp:

“Ngày xưa đấng Pháp Vương dong thuyền đó đây, không riêng biệt cho ai, và cho người đời sau nào hết. Nay, vì hoằng dương chánh Pháp xin Ngài hứa khả nạp thọ.”

Thế rồi luận sư chẳng từ chối được cho nên thọ nhận ấp nầy tạo thành Già Lam cùng các quy cũ. Sau đó Ngài cúng dường lại và ra đi. (Trích Đại Đường Tây Vực Ký)

Sau đây, là toàn văn Thánh tích gắn liền với cuộc đời 6 năm khổ hạnh “Sông Ni Liên Thiền”, Núi Chánh Giác, Cây Bồ- đề, Kim Cang Tòa, mà mốc là từ chùa Ngài Giới Hiền trong nước Ma Kiệt Đà.

 “Nước Ma Kiệt Đà chu vi ngàn dặm. Trong thành nhỏ có nhiều người ở. Đất đai màu mỡ, dễ dàng trồng trọt, có nhiều loại lúa hạt rất to, mùi thơm đặc biệt và màu sắc lóng lánh. Tục lệ hay dùng lúa gạo để cúng dường…”.

Phía Tây Nam chùa của Ngài Giới Hiền đi hơn 45 dặm qua sông Ni Liên Thiền, đến thành Dà Gia (Gaya) nơi nầy rất hiểm yếu cho nên ít người ở, chỉ có độ hơn 1000 người Bà La Môn. Có đại tiên nhơn nối dõi ở đây. Vua cùng đại thần đều tôn kính. Ở phía Bắc cách 30 dặm có một hồ nước trong, mà người Ấn Độ tương truyền rằng là hồ nước Thánh, nếu uống vào tội cấu sẽ tiêu trừ. Phía Tây Nam của thành này hơn 5.6 dặm đến núi Gaya, nơi đó có động đá rất nguy hiểm. Người Ấn Độ gọi là núi linh thiêng. Từ xưa đến nay, vua chúa cũng đều nhận như thế. Người ở xa đến đây tắm gội thì nhuần được ân đức của đời trước chưa nói gì đến việc thành công. Trên đỉnh núi có một Bảo Tháp cao hơn trăm thước do vua A Dục dựng nên. Nhiều khi phát ra ánh sáng rất linh thiêng, chuyện xưa kể rằng:

- Đức Như Lai khi diễn thuyết kinh nơi đây có mây lành bao phủ. Phía Đông Nam núi Gaya có một bảo tháp. Đây là nơi hỏa thiêu ngài Dà Gia Ca Diếp Ba, và Na Đề Ca Diếp Ba, qua con sông lớn đến Bát La Hấp Bồ Đề Sơn (Chánh Giác Sơn). Nơi đây Như Lai tu sáu năm khổ hạnh mà chưa thành Chánh Giác, và sau khi xả khổ hạnh rồi liền thọ bát cháo sữa. Tự đi về hướng Đông Bắc để đến núi này và mong được chứng thành Chánh Giác. Từ phía đồi Đông Bắc lên đến đỉnh, đất tự nhiên rung động nghiêng ngữa. Sơn Thần kinh hoảng mới thưa với Bồ tát rằng:

- Núi này không phải là nơi thành Chánh Giác chẳng phải là phước địa, nên dừng việc nhập kim cang định nơi đây.

Đất hết rung chuyển và núi trở lại bình thường. Bồ tát đi xuống phía Tây Nam đến lưng chừng núi, ngoảnh mặt thấy một hang đá lớn, ngài liền ngồi kiết già phu tọa. Đất đai liền chấn động một lần nữa núi lại nghiêng thêm. Lúc bấy giờ Tịnh Cư Thiên từ không trung xướng lên rằng:

- Đây không phải là nơi đức Như Lai thành Chánh Giác.

Từ phía Tây Nam đi hơn 14 dặm rưỡi, cách nơi khổ hạnh chẳng xa, có một cây Tất Bát La dưới đó có Kim Cang Tòa, mà chư Phật trong ba đời từ quá khứ đến vị lai đều thành Chánh Giác ở đây, và nguyện sẽ được thành tựu.

Khi Bồ tát đứng dậy, ở trong không trung con rồng lên tiếng. Đây là nơi thù thắng có thể thành Chánh Quả, ngưỡng mong đấng Từ bi đừng bỏ qua. Bồ tát liền biết rằng:

- Không thể chối bỏ nơi đây, vì vậy cho nên Rồng biết ý rồi lưu ảnh lại mà đi. Chư Thiên dẫn đường đi trước đến cây Bồ Đề. Về sau Vua A Dục hưng thịnh lên nơi chứng Bồ Đề trên dưới vẫn còn dấu tích. Tất cả chung quanh cây ấy đều được xây dựng những bảo tháp mà qua đó vô số đặc thù linh ứng khó tả, như mưa hoa từ trên trời rơi xuống, và hào quang chiếu sáng u nhàn. Mỗi năm nhân mùa An Cư, nhiều nơi Tăng tục đến đây tu phước cúng dường, lòng tin bất hoại. Phía trước núi Chánh Giác, hướng Tây nam đi hơn 14 dặm rưỡi, đến gốc cây Bồ Đề. Chung quanh nơi đây được bao bọc bởi gạch đá kiên cố, phía Đông Tây dài, phía Nam Bắc hẹp. Chu vi hơn 500 bộ. Cây nầy soi bóng xuống hồ nước có hoa sen, nhiều cây cỏ hoa lá xanh tươi màu biếc. Cổng chánh phía Đông đối diện với sông Ni Liên Thiền, cổng phía Nam tiếp nối với hồ lớn đầy hoa. Phía Tây thì nguy hiểm, phía Bắc thông qua đại Già Lam. Trong vườn đất đai rất rộng. Bên cạnh Thánh tích hoặc có Bảo tháp hoặc làm Tịnh xá do các Vua và đại thần ở các nước Thiệm Bộ Châu thừa sự Di giáo của đức Phật mà kiến tạo để kỷ niệm. Ngay dưới gốc cây Bồ đề là Kim Cang Tòa mà ngày xưa lúc Hiền kiếp có một ngàn vị Phật đã ngồi nơi đây mà nhập Kim Cang định cho nên gọi là Kim Cang Tòa, để chứng Thánh quả. Lại có tên là Đạo Tràng. Khi đại địa chấn động, không bao giờ lay chuyển. Cho nên Như Lai thành Chánh Giác. Đất bốn phía nầy có dao động, nhưng sau khi đến rồi trở nên an tịnh không dao động nữa. Đến thời Mạt pháp cuối cùng, Chánh Pháp không còn gì nữa, nơi nầy sẽ bị đất cát phủ lên không thấy được nữa. Sau khi Phật Nhập Niết Bàn, Vua chúa các nước cùng đến nghe Phật Pháp tại Kim Cang Tòa rất nhiều. Có hai tượng toàn thân của đức Quán Tự Tại Bồ Tát ngồi ở phía Tây Bắc, mặt xây về hướng Đông, nghe các bậc kỳ cựu nói rằng: “Tượng Bồ Tát này mà chìm hết thì Phật pháp sẽ diệt tận, và bây giờ đã thấy tượng Bồ Tát ở đó đã chìm đến ngực rồi. Trên Kim Cang Tòa là gốc cây Bồ Đề, tức là cây Tất Bát La, khi Phật còn tại thế cao hơn trăm thước, trải qua nhiều lần bị đốn chặt chỉ còn 45 thước. Phật ngồi dưới cây nầy thành bậc Chánh Đẳng Chánh Giác cho nên gọi là cây Bồ Đề.

Gốc cây màu vàng, cành màu trắng, lá màu xanh. Mùa Đông cũng như mùa Hạ, màu sắc ấy không thay đổi. Mỗi năm đến ngày Như Lai nhập Niết Bàn, tất cả lá đều rụng hết, rồi được mọc trở lại. Ngày đó là ngày mà Vua các nước cũng như Tăng tục số đến hàng vạn người, chả mời thỉnh mà ai cũng về. Dùng nước hoa, nước hương, sữa để gội rửa rồi phụng tấu âm nhạc cùng cúng dường hương hoa đèn nến luôn ngày không dứt.

(Trích Đại Đường Tây Vực Ký- Quyển thứ tám (1 nước Ma- kiệt- đà) Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh quyển thứ 51, thuộc sử truyện Bộ thứ 3, từ trang 867 đến trang 948, gồm 12 quyển, do Ngài Huyền Trang đời nhà Đường dịch, Ngài Biện Cơ soạn lại, Sa Môn Thích Như Điển dịch)

Những dấu tích thánh địa đầy thiêng liêng mà đức Phật lưu lại cho chúng ta suốt 3000 năm nay, thấy đó như thấy cuộc đời và sự nghiệp đức Phật luôn hiện hữu trong ký ức mỗi người chúng ta. Lễ Phật Đản hằng năm nhằm gợi chúng ta luôn hướng về trái tim Từ Bi không phân biệt, luôn hướng về Trí tuệ siêu thắng, luôn hướng về những sự khổ đau của nhân loại. Và, thông điệp ân cần nhất chính là đức Phật muốn chúng ta đều thành Phật. Tức ai cũng đều có trí tuệ siêu việt để thực hiện những ước mong của mình, không ngoài tôn chỉ “Lợi mình, lợi người.” Có như vậy, mới đáp đền phần nào công hạnh đức Phật dành cho chúng ta./.

 

Trang Ảnh

Pháp Âm

Thống kê

Hiện có 7 khách đang trực tuyến

23

2929

92196

 

Âm lịch

Copyright @ 2009-2010 Chùa Kỳ Viên Trung Nghĩa
132 Sinh Trung, Nha Trang, Khánh Hòa, Việt Nam
Điện thoại: +84.58.3827197; 3500252
Cố Vấn: Hòa Thượng Thích Trí Viên | Biên Tập: ĐĐ. Thích Huệ Pháp
Thư điện tử xin gởi về: huephap@gmail.com
Ghi rõ địa chỉ nguồn "kyvientrungnghia.com" khi đăng lại từ trang web này