“Chúng sanh bị khổn ách
Vô lượng khổ bức thân
Quán Âm Diệu Trí lực
Năng cứu thế gian khổ.”
Cách đây 15 năm, đáp ứng theo lời mời của Giám Đốc Công ty Yến Sào Khánh Hòa cung thỉnh Thầy Trụ Trì Thích Trí Viên chùa Kỳ Viên Trung Nghĩa Nha Trang, đi trên chiếc thuyền lớn ra ngoài Đảo Yến để cầu an cho công ty này, tôi có dịp theo Thầy và chư huynh đệ chùa Kỳ Viên ra đó. Ngoài đảo có rất nhiều mỏm đá chỉa thẳng lên trời như những mũi dao nhọn hung hăng dữ tợn, tuy nhiên bù đắp lên những nguy hiểm đó, bên trong đảo ban giám đốc tôn trí Thánh tượng Quán Thế Âm, xung quanh là hồ sen và hoa cỏ xanh xanh mát dịu. Đặc biệt, đến giờ này tôi còn nhớ mãi lời thề nguyện của đức Quán Thế Âm Bồ-tát được tạc bia đá trên nền Đảo Yến Khánh Hòa, lược trích: “Nếu chúng sanh nào tụng trì thần chú Đại Bi, mà còn bị đọa vào ba đường ác, tôi thề không thành Chánh giác. Tụng trì thần chú Đại bi, nếu không được sanh về các cõi Phật, tôi thề không thành Chánh giác, tụng trì thần chú Đại bi nếu không được vô lượng Tam-muội biện tài, tôi thề không thành Chánh giác, tụng trì thần chú Đại bi, tất cả mọi sự mong cầu trong đời Hiện tại, nếu không được vừa ý, thì chú này không được gọi là Đại Bi Tâm Đà-la-ni, duy trừ cầu những việc bất thiện, trừ kẻ tâm không chí thành.”
Cũng như chúng ta ngồi cùng chiếc thuyền lênh đênh trên biển, dù thuyền to hay thuyền nhỏ, đôi khi bị sự cố, chỉ cần một lỗ thủng cũng sẽ bị nước nhấn chìm, nếu không có những thuyền cứu nạn kịp thời, hoặc không có phao nâng đỡ thì chắc chắn chúng ta sẽ đến một thế giới mới trong lòng đại dương sâu thẳm. Cho nên, dù sống trong hoàn cảnh nào, trong thời đại nào, vấn đề tích lũy “Những lợi ích thiết thực trong cuộc sống phòng khi hiểm nạn” luôn đặt lên hàng đầu. Nếu chúng ta đi thuyền ra biển nước mênh mông mà không biết bơi, thì khi gặp sóng gió chưa ai cứu kịp khó lòng thoát hiểm; lên rừng đốn củi không chuẩn bị rìu búa và lương thực thì luống uổng công sức dễ bị mất mạng; Sống nơi thế gian không tu nhân tích đức thì những khó khăn dồn dập, nhiều tai nạn rình rập bất cứ lúc nào không ai ngờ tới. Đến lúc “Khát nước mới đào giếng”, “Mất bò mới chịu làm chuồng”, “Lúc gặp nạn mới ôm chân Phật” thì đã quá muộn màng, dẫu có khẩn cấp cầu Phật cứu hộ cũng không cách nào giải thoát nổi. Cho nên, cổ nhân thường nói: “Phù nhân vô viễn lự, tất hữu cận ưu” (Người không lo xa, ắt có phiền gần).
Tôi hay nghe ca khúc về vùng sông nước mà Ca sỹ Cẩm Ly thường hát: “Nước biển dâng cao, dâng theo bao nỗi niềm đau”. Cảnh tượng thê lương, buồn đau man mác đó đã diễn ra, trên toàn thế giới ai cũng biết đến, không chỉ là “Nước biển dâng cao” mà là “Sóng thần tàn khốc” đã lấy đi hàng triệu người đang sinh sống, trong đó, chính phủ cấp cao có, “Sỹ, nông, công, thương” có, người sang giàu, kẻ thấp hèn đều có, cặm cụi vất vả bao năm trường, tích cóp tiền của để xây dựng được những tòa nhà chọc trời, sắm những chiếc xe con đời mới, bóng loáng thế mà trong phút chốc “Tan thành bình địa”, chỉ để lại những sự đói kém, dịch bệnh lan truyền, tiếng khóc não nề vang trời của những người thân may mắn sống sót sau “Trận Hồng thủy” và Động Đất ngày 11 tháng 3 tại Nhật Bản. Thiệt hại đến hơn 300 tỷ Đô la, hơn 600.000 tỷ (Sáu trăm nghìn tỷ đồng tiền Việt Nam). Đó là sự thật, mà mọi người đều biết. Khắp nơi trên thế giới hiện tại đã và đang tiếp tục dang rộng vòng tay để cứu trợ những mảnh đời đang yên vui lại xảy ra bất hạnh đó. Một bất hạnh không giấy mực nào chép tận. Những cảnh tượng tan thương giờ chúng ta mới thấy đã quá muộn, Phật Thích Ca đã nói hơn 3000 năm rồi, Kinh Kim Cang, Phật nói: “Nhất thiết hữu vi Pháp, như mộng huyễn bào ảnh, như lộ diệc như điện, ưng tác như thị quán.”(Tất cả vạn vật trong thế giới, như giấc mộng, như huyễn hóa, như bọt biển, như hình bóng, như sương móc ban mai, như ánh chớp chợt lóe, nên nhìn nhận quán xét như vậy.)Sáu trăm nghìn tỷ tiền Việt bị hủy mất chỉ trong phút chốc. Vậy, những gì là luôn tồn tại vĩnh viễn? Không có thứ gì cả, ngoại trừ “Bản tâm thanh tịnh” của chính chúng ta. Muốn thấy được bản Tâm thanh tịnh này, duy nhất chỉ dành cho những ai bước vào cánh cửa lớn để vào con đường lớn. Cánh cửa lớn tức là Pháp “Đại-thừa”, con đường lớn chính là “Phật-đạo”.
Muốn thấy được “Bản tâm thanh tịnh” thì không cách nào hơn ngoài việc chuyên tâm nhiếp niệm hướng đến những kinh pháp Đại thừa, khởi tâm cung kính ngưỡng mộ Đại thừa. Với tâm Đại thừa mà chư vị Tổ sư đã suốt nhiều năm lao nhọc truyền bá, những vị cao Tăng vất vả hoằng dương, cuối cùng chỉ mong muốn được “Xiển dương Đại Thừa”. Chỉ có Đại thừa mới khơi mở nguồn tâm đến được biển lớn Phật Pháp. Không có tâm Đại thừa thì chúng ta chỉ luẩn quẩn trong biển lợi danh ngu tối chốn phàm phu. Qua hình ảnh “Đường Huyền Trang” trong tác phẩm Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân, đã truyền hình trực tiếp ra công chúng trên toàn thế giới, và khắp nhiều Quốc gia, không ai phủ nhận một người có ý chí kiên cường, vượt qua hơn 110 quốc gia, một mình một ngựa, “Nhập Trúc Cầu Pháp” thỉnh Đại thừa kinh điển, rồi trở về nước cất công phiên dịch. Công lao to lớn đó, hiện nay khắp năm Châu đều biết đến. Tháng 5 năm 2004, Tam tạng Pháp sư Huyền Trang (602-664) đã được Tổ chức Khoa học, Văn hóa và Giáo dục Liên Hợp Quốc (UNESCO) công nhận là danh nhân văn hóa thế giới (Theo: Phật giáo Tại Tuyến, 29/10/2004-TBGN-252; trích Biên Niên Sử Phật Giáo-Tác giả: Thích Hạnh Thành)
Nếu ví ở thế gian, khi chúng ta bước chân vào Đại thừa cũng giống với bước chân vào Khách sạn 5 sao, hoặc làng nghỉ dưỡng cao cấp tiêu chuẩn Quốc tế, ra khỏi khu nhà trọ ẩm thấp.
“Còn chần chờ gì nữa mà chúng ta không chịu tu, thế giới của chúng ta đang sống không biết thiên tai ập đến lúc nào, động đất, sóng thần, gió bão, mưa lũ, hạn hán, mất mùa. Chúng ta đã bỏ biết bao công sức để xây dựng sự giàu có vật chất, hạnh phúc nơi thế gian, nhưng những thứ đó, đều là hư giả, huyễn hóa. Tại sao chúng ta mỗi ngày không bỏ chút ít thời gian tu cho mình, đem lại những lợi ích chính đáng cho mình và người sau này!”(Trích Pháp thoại của Hòa thượng Thích Trí Viên). Chính vì thế, tại chùa Kỳ Viên Trung Nghĩa, và nhiều chùa khác. đã kiên trì Tụng Niệm kinh Đại Thừa trong nhiều năm qua nhằm gieo hạt giống Đại-thừa trong Tâm thức mọi người. Mục đích khuyến khích những ai muốn thay đổi cuộc đời, dứt trừ phiền não, mỗi ngày thảnh thơi, tâm trí sáng suốt, làm việc ở đời đều thuận lợi. Lợi ích thiết thực nhất là dứt trừ bệnh tật thân thể, khi lạy Phật đứng lên ngồi xuống, thì làm co giãn các khớp xương không bị xơ cứng, huyết mạnh lưu thông. Ngồi tụng niệm tư thế xếp bằng ngay ngắn, điều hòa hơi thở, tăng thêm khí lực. Miệng đọc Pháp Hoa, nhiếp các vọng ngữ lâu ngày thành tập quán. Nên lòng ngày càng thanh thản, chí mỗi lúc càng tinh tấn. Đến khi không đọc tụng cảm thấy thiếu hụt tinh thần. Nếu thực hiện đúng nhịp điệu quân bình thì Khóa Lễ tụng trên cũng như buổi tập Khí Công Dưỡng Sinh, kéo dài tuổi thọ. Nhắc đến việc tụng kinh, tôi nghĩ khó có vị nào kiên trì như Đại lão Hòa thượng Thích Trí Tịnh (94 tuổi), là bậc dịch giả lớn trong công tác phiên dịch Kinh Điển Đại Thừa, đến nay đã trên 70 năm tụng kinh Pháp hoa.
Bổn kinh Pháp Hoa thuộc về Đại-thừa giáo. Phẩm thí dụ trong kinh Pháp Hoa: “Nếu có chúng sanh nào theo đức Phật Thế-tôn, nghe pháp tín thụ, siêng tu tinh tấn, cầu Nhất thiết trí, Phật trí, Vô sư trí, cầu Tri kiến, Lực, Vô sở úy của Như Lai, xót thương làm cho vô lượng chúng sanh được an lạc, làm lợi ích cho Trời, Người độ thoát hết thảy thì đó gọi là Ma-ha-tát” (Trích Từ Điển Phật học Hán Việt, năm 2002).
Chỉ một bài kệ, hoặc một phẩm kinh Đại thừa, nếu ai “Hạ thủ công phu” trì tụng thì phước báo không cùng tận. Khi chúng ta trì tụng lâu ngày thì tự nhiên sẽ phát sinh ra nhiều sự mầu nhiệm, mà chỉ có những người chí thành tu tập rồi chiêm nghiệm mới thấy được tác dụng, cũng như chúng ta luộc khoai, hoặc nấu cơm, không phải đổ nước vào rồi đặt lên bếp lò là chín liền, mà phải dành khoảng thời gian nhất định để chín khoai hoặc cơm. Khi chín rồi tự bản thân mình ăn mới thấy no, chứ có lý nào mình ăn mà người khác no được. Cho nên, việc tu học có lợi ích chỉ khi nào tự thân “Hạ thủ công phu”, tự thân trải nghiệm thì mới thấy được hiệu quả, chứ hoàn toàn không có sự tu giùm mà thành tựu.
Nếu chúng sanh nào nghe được danh hiệu chư Phật, Bồ-tát, hoặc danh hiệu Kinh điển Đại thừa, thì người đó đã từng gieo nhân lành nhiều kiếp nơi Phật pháp nên mới có diễm phúc ấy. Nếu như chúng ta không gieo hạt giống Giác ngộ từ trước thì sao có người nghe kinh thì chán ghét, mà một số người họ quan niệm kinh kệ dành khi chết mới tụng. Đó là cách nghĩ vô cùng tiêu cực. Kinh Kim Cang, Phật thuyết: “Nhược hữu nhân, đắc văn thử kinh, thị tri bất ư nhất Phật, nhị Phật, Tam Phật, Tứ Phật nhi chủng thiện căn, nhi ư Vô lượng Phật chủng chư thiện căn.” (Nếu có người nào, nghe được kinh điển Đại thừa này, thì biết người đó không phải chỉ trồng nhân lành nơi một đức Phật, hai đức Phật, ba đức Phật, bốn đức Phật, mà người đó đã từng trồng nhân lành nơi Vô lượng đức Phật.” Cho nên, khi bước chân đến Chùa mà không tìm đọc và kính cẩn lắng nghe chư Tỳ-kheo thuyết giảng Giáo nghĩa Đại thừa là một thiếu sót lớn trên suốt chặng đường tu tập. Vì Nhân duyên bao đời chúng ta đã gieo trồng từ chỗ đức Phật mà không phát huy thì muôn phần hổ thẹn, bởi lẽ, chính mình đã phá hủy sản nghiệp quý báu lớn nhất của chính mình là “Con đường Trí tuệ siêu thắng.” Chúng tụng kinh Pháp Hoa chính là trì niệm giáo nghĩa Đại thừa Viên Đốn.
Về mặt văn tự, thì Đại thừa tức là “Cỗ xe lớn” theo nghĩa thế gian, còn thâm thúy hơn đó chính là “Những chặng đường” dành cho Bồ-tát tu học để thành tựu Phật đạo. Chỉ có thành Phật đạo mới có được Trí Tuệ viên mãn cứu khổ chúng sanh. Đạo Phật chủ trương cứu khổ chúng sanh chứ không chủ trương phân biệt sự cao thấp nơi các giáo phái. Ai muốn có cuộc sống vui sướng thì tìm đến đạo Phật, ai muốn cuộc đời mình cứ vướng chìm trong phiền não, sầu bi thì cứ xa lìa “Con đường trí Tuệ”. Vì Phật chính là Trí Tuệ, mà Trí tuệ cũng chính là Phật. Còn Viên: viên mãn (tròn đầy, trọn vẹn), viên dung: dung hòa qua lại lẫn nhau mà không có sự trở ngại, lớn dung chứa nhỏ, nhỏ dung chứa lớn, một tức vô lượng, vô lượng tức một, các pháp bình đẳng viên mãn dung hòa nhau không chướng ngại, như cảnh giới trong kinh Hoa Nghiêm; Đốn (mau chóng): đốn ngộ, giác ngộ trong khoảnh khắc mau chóng, không cần phải trải qua thời gian, không gian, thứ lớp tu tập, mà lập tức thành tựu Giác ngộ chỉ trong một niệm, như Ngài Lục Tổ Huệ Năng. Muốn thành Phật trong Nhất niệm, luận về sự thì tu tập vô lượng tế hạnh của Tiểu-thừa, rồi tiến đến tu Vạn hạnh Lục-độ nơi Đại thừa (tân học Bồ-tát), kế nữa, đặt chân lên thềm “Sơ địa” tiếp tục tu và tu mãi mãi mới đạt đến “Bát địa”, “Cửu địa” và cuối cùng là ‘Thập địa” là trọn vẹn con đường tu tập Bồ-tát hạnh, vẫn chưa thành Phật, mà từ đó tiếp tục tu cho đến “Đẳng Giác”, “Chánh giác”, rốt ráo là “Chánh đẳng Chánh Giác” mới thành tựu được quả vị Phật. Trải không biết bao nhiêu đời kiếp, qua không biết bao nhiêu thời gian, không thể tính đếm, không thể nói tận mới đến nơi Bờ giác, chứ không phải đơn thuần mà có được “Nhất niệm thành Phật”. Như Nhất niệm của đức Quán Thế Âm Bồ-tát: “Nhất niệm tâm vô quái ngại, Quán Âm Như Lai thường cư Nam Hải nguyện.” Cái nguyện này đã trải qua bao đời kiếp khổ tu mới có được. Quán Âm nguyên đã thành Phật, hiệu Chánh Pháp Minh Như Lai trong đời quá khứ, nay vì Bi nguyện nên Ngài thị hiện Bồ-tát cõi nhân gian nhằm gieo trồng căn lành phổ độ chúng sanh. Nghe sơ về quá trình tu tập thành Phật thấy vô cùng khó khăn chứ đâu đơn giản chỉ trong một niệm.
Nay chúng ta có nhân duyên lớn, được tụng thời kinh Đại thừa Pháp Hoa cũng đủ biết chúng ta đã từng có phước báu nhiều đời chứ không phải tự nhiên mà có. Ngoài việc đọc tụng kinh điển, chúng ta không thể không tìm hiểu về giáo nghĩa Đại thừa, có như vậy mới gặt nhiều ích lợi lớn. Tóm lại, Đại thừa Viên Đốn là con đường dẫn đến giác ngộ viên mãn mau chóng thành Phật.
Về sự thì chúng ta học nhiều pháp môn, tu nhiều hạnh nhẫn nhưng về lý thì chỉ trong “Nhất niệm thành Phật”. Đây chính là điểm yếu tốn nhiều giấy mực luận bàn nhất qua các triều đại.
Ngày 29 tháng 6 năm 2004, tại chùa Quốc Ân ở núi Long Sơn, huyện Tân Hưng, Tỉnh Quảng Châu, người ta đưa tin về một cây cổ thụ có tuổi thọ cao nhất, cây vải do chính tay Lục Tổ Huệ Năng trồng cách đây hơn 1300 năm. Cây vải này cao 18,20m, tán rộng 3,72m; mùa vải năm nay người ta thu hoạch được 150kg.” (Trích đoạn trang 674, Biên Niên Sử Phật Giáo Trung Quốc-Tác giả: Thích Hạnh Thành). Thắng tích này gợi cho chúng ta nhớ lại, những ngày nghèo khó, mà người thất học không biết một chữ, hằng ngày đốn củi kiếm cơm độ nhật, đi ngang qua giảng đường nghe giảng kinh Kim Cang có đoạn: “Bất kỳ lúc nào, chỗ nào tâm cũng đừng ngu muội, ngu muội một chút thì Trí tuệ kém đi một chút, trí một chút thì Bát-nhã tăng thêm một chút.” Từ chỗ ngưỡng mộ nghĩa lý Đại thừa và trì kinh Kim Cang mà trở thành Lục Tổ Huệ Năng, Hậu duệ của Ngài Bồ-đề-đạt-ma sơ tổ Thiền Tông. Như vậy, việc đọc tụng kinh điển Đại thừa có lợi ích vô cùng.
Phẩm Đề-bà-đạt-đa trong kinh Pháp Hoa, Ngài Trí Tích Bồ-tát nói: “Tôi xem trong cõi Tam thiên Đại thiên nhẫn đến không có chỗ nhỏ bằng hột cải mà không phải là chỗ Bồ-tát (chỉ cho Phật Thích Ca) bỏ thân mạng để vì lợi ích chúng sanh, vậy sau mới thành Bồ-đề.”
Giáo pháp đức Phật chú trọng đến việc tu học thực tiễn, và mục đích chủ yếu là thiết lập phương tiện cứu khổ chúng sanh, nếu không có chúng sanh khổ thì Phật pháp cũng không còn. Nếu cả pháp giới dứt sạch mê tình thì Phật pháp cũng chấm dứt. Vì Nghĩa lý Phật Pháp Đại thừa đều quy về Bản thể Chân Như. Không nhiễm trần cấu. Thường các kinh điển Đại thừa hay có phẩm Phương tiện, bởi đức Phật muốn cứu khổ chúng sanh thì cần phải có phương tiện, không có phương tiện thì vô phương cứu chữa. Như qua sông nhờ đò, cây xanh tươi thì dùng nước tưới, đốn củi cần dùng đến rìu, bệnh đau mượn thuốc thang chữa trị. Đó chính là những phương tiện. Phương tiện thuộc Quyền trí trong pháp Đại thừa, còn bản thể toàn Pháp giới rộng lớn, thì tánh vạn pháp đều là Không. Vạn Pháp đều không, nhưng tất cả mọi người thế gian dùng những thứ có trên nhục thân (Căn, trần, thức) để xét đoán mọi vật, do thấy vật nên cho là thật có, nếu dùng trí quán sát thì vật đó thật không có. Cũng như thảm họa Động đất, Sóng thần vừa xảy ra tại Nhật Bản, chúng ta cho rằng những vùng đất đó sẽ không bị hủy hoại, nhưng không ai biết trước được điều gì sẽ xảy ra, Thực cảnh phủ phàng đã xuất hiện, mọi thứ trở về với con số “Không”.
Kinh Pháp Bảo Đàn: “Nhân hữu lưỡng chủng, pháp vô lưỡng ban, mê ngộ trung hữu thù, kiến hữu trì tật, mê nhân niệm Phật, cầu sanh ư bỉ, ngộ nhân tự tịnh kỳ tâm, sở dĩ Phật ngôn: “Tùy kỳ tâm tịnh tức Phật độ tịnh.” (Người có hai loại, Pháp không có hai, giữa mê ngộ bên trong có khác, thấy có sự mau chậm, người mê niệm Phật thì mong cầu sanh nơi Tịnh độ, còn người Giác ngộ thì tự làm thanh tịnh bản tâm mình, cho nên, đức Phật nói: “Tùy tâm người tịnh tức đất Phật tịnh.”
“Thiện tri thức! Nhất thiết Bát-nhã trí giai tòng tự tánh nhi sanh, bất tòng ngoại nhập, mạc tác dụng ý danh vi chân tánh, tự dụng Nhất chân Nhất thiết chân, tâm lượng đại sự, bất hành tiểu đạo, khẩu mạc chung nhật thuyết không tâm trung bất tu thử hạnh, hiệp dĩ phàm nhân tự xưng quốc vương chung bất khả đắc, phi ngô đệ tử.” (Các vị Thiện tri thức! Tất cả Bát-nhã trí đều từ nơi tự tánh sanh ra, không từ bên ngoài vào, chớ lầm dùng cái ý thức rồi gọi đó là Chân tánh tự dụng. Một chân thì tất cả chân, tâm lượng vô cùng rộng lớn, không hề theo đường nhỏ. Miệng đừng suốt ngày nói “Không” mà trong lòng không tu hạnh ấy. Cũng như người phàm tự xưng mình là Quốc vương, mà rốt cuộc chẳng đạt được gì. Hạng người ấy chẳng phải là đệ tử của Ta.”
Tóm lại, “Phật pháp không rời muôn vật ở thế gian”. “Cây khô còn dễ sống lại, chứ một khi đã mất thân người thì muôn kiếp nghìn đời khó mà có lại được”. Hằng ngày, bước chân ra đường biết bao nhiêu vấn nạn giao thông, nguy hiểm không lường trước được, nếu chúng ta không gấp rút tu tập thì khi nằm xuống lấy gì để cứu hộ. Rồi thần thức chúng ta sẽ đi về đâu, người thân trên dương thế sẽ đau buồn như thế nào. Cho nên, thời buổi “Động đất, Núi lửa, Sóng Thần” không hẹn trước này chính là hồi chuông cảnh báo chúng ta, tự ý thức được để chọn hướng tu nhiều lợi ích cho chính mình và hồi hướng phước báo, lưu truyền lẫn nhau giúp nhiều người cùng tu tập càng tốt.





56
2653
91920
