Tỳ kheo hữu học

Tác giả: Phước Thắng

     Tỳ kheo là âm Việt Hán, tiếng Phạn là Bhiksu, Pali là Bhikkhu, phiên âm là Bí sô, Bức sô, Bị sô, Tì hộ. Hán dịch là Khất sĩ, Khất sĩ nam, Trừ sĩ, Huân sĩ, Phá phiền não, Trừ cẩn, Bố ma. Tỳ kheo được định nghĩa là Người nam được độ xuất gia, thọ giới Cụ túc (250 giới), thoạt đầu là một trong năm chúng (Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Sa di, Sa di ni, Thức -xoa-ma-na) về sau là một trong bảy chúng (5 chúng + Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di) của giáo đòan Phật giáo. Nhiều Luật, Luận giải thích rất rõ nghĩa Tỳ kheo. Ở đây theo Luận Đại Trí Độ 3 thì Tỳ kheo có 5 nghĩa: 1) Khất sĩ (Người tự khất thực để nuối sống một cách thanh tịnh); 2) Phá phiền não còn gọi là phá ác; 3) Xuất gia; 4) Trì giới thanh tịnh; 5) Làm ma sợ hãi (Bố ma). Về chủng loại Tỳ kheo thì tùy theo lập trường của các Bộ Luật hay Luận mà chia ra 4 hạng Tỳ kheo (Thập Tụng 1, Câu Xá Luận) hay 7 hạng Tỳ kheo (Tứ Phần Luật). Ở đây không đi sâu vào vấn đề này. Chỉ xét về ý nghĩa của khất thực và tìm hiểu chủ thể khất thực (Sĩ). Khất thực nghĩa thuần Việt là đi xin ăn, còn theo cách gọi dân gian là “Ăn mày”. Thật dễ hiểu thế gian có năm bảy thứ ăn mày và cũng có hạng “ăn mày” làm quan, nhưng hạng quan này “triều đình” chỉ cho chức chứ không cho quyền nên dễ thụy miên. Theo nghĩa khất thực và ngủ dưới gốc cây không quá ba đêm thì Tỳ kheo là người “vô sản” nhất trần gian. Nhưng mục đích hành động của kẻ sĩ này, theo Kinh, Luật, Luận là vô cùng trượng phu. Trượng phu ở chỗ nào xin theo kinh điển mà ghi ra đây:

Khất thực vốn có 2 ý nghĩa: a) Tự lợi: Dứt bỏ mọi việc thế tục, làm phương tiện tu đạo; b) Lợi tha: Tạo phước điền cho chúng sinh. Theo kinh Tăng Nhất A-hàm 47 và Tì-ni Thảo yếu 6 ghi rõ như vầy: Khi vào thành (xóm làng, thành thị…) khất thực, Tì kheo phải đi dọc theo bên đường, tay trái ôm bát, theo thứ lớp khất thực, lấy việc duy trì mạng sống làm giới hạn, tâm không tham đắm, cho nên khi được thức ăn không vui, không được cũng không buồn, chỉ lấy việc trừ bệnh đói, nuôi dưỡng khí lực làm chính.

Vì sao sau giờ ngọ Tỳ-kheo không đi khất thực lý do như sau: Tỳ-kheo Ca-lưu-đà-di (giòng dõi hoàng tộc) có sắc mặt đen đúa vào thành khất thực lúc xẩm tối, trời mưa sấm sét nổi lên. Trong nhá nhem sấm chớp ấy, một người phụ nữ mang thai trông thấy ngài Ca-lưu, ngỡ là ma quỉ la lớn Quỉ! Quỉ! Rồi ngất xỉu, bà bị trụy thai (Luật Ngũ Phần). Từ nhân duyên này Đức Phật chế cấm Tỳ kheo sau giờ ngọ không được đi khất thực.

Theo kinh Pháp Tập, Như Lai khất thực có ba nghĩa: a) Không tham đắm vị ngon: Ngon dở đều bình đăng; b) Vì phá trừ ngã mạn: Không phân biệt giàu nghèo; c) Từ bi bình đẳng…

Theo kinh Bảo Vũ 8, Bồ-tát đi khất thực để thành tựu 10 pháp: a) Nhiếp thu các lọai hữu tình. Mục đích làm cho tất cả hữu tình sinh khởi thiện căn; b) Thứ lớp: Khất thực từng nhà một trừ nhà ngọai đạo, nhà hung dữ…; c) Không mệt mỏi nhàm chán; d) Biết đủ; đ) Phân chia thức ăn: Trước hết thức ăn ngon dở mang về dâng cúng tượng Phật, Tháp Xá-lợi. Sau đó chia làm 4 phần: 3 phần san sẻ cho người đồng tu, kẻ bần cùng, hữu tình trong đường ác, ăn phần còn lại; e) Không đắm nhiễm luyến tiếc thức ăn; g) Biết lượng vừa đủ; h) Làm cho phẩm thiện hiện tiền; i) Làm cho thiện căn viên mãn; k) Lọai bỏ ngã chấp. [1]

Như vậy không luận Tỳ kheo thuộc hệ phái Tiểu thừa hay Đại thừa đều phải khất thực, bỏ quên thiện pháp này thì nghĩa Tỳ kheo không tròn, nhưng hầu hết các nước theo truyền thống Đại thừa ít hoặc không đi khất thực nhưng đừng nên hiểu kiểu “không ăn mặn” (ngũ tịnh nhục) là trái với truyền thống Nguyên thỉ, không đi khất thực là phi Phật dạy. Thật ra, Tỳ kheo Đại thừa xem bình bát là lý tưởng giải thoát cao cả của mình. Y và Bát như là đôi cánh chim bay trong bầu trời giải thoát của họ. Tinh thần “sắc tức thị không, không tức thị sắc” họ vận dụng, quán chiếu vào việc khất thực một cách sâu sắc để thành tựu 10 pháp đã nói trên.

Chủ thể khất thực ngoài việc khất thực phải làm gì? Phải Hữu học, Tỳ kheo Hữu học còn gọi là Học nhân, nghĩa là Người học ấy chuyên tu tập Giới, Định, Tuệ vô lậu, như kinh Tạp A-hàm 14 nói: “Tỳ kheo ấy xa lìa ái dục, dứt hết sự mong cầu, nên gọi là học” (Đại 2, 95 trung). Nội dung ấy được nói rõ ở trong bộ Luật Tiểu là: “Ngũ hạ dĩ tiền chuyên tinh giới, luật. Ngũ hạ dĩ hậu phương nãi thính pháp tham thiền”. Như vậy muốn trở thành Tỳ kheo thanh tịnh tri thức phải mất 10 năm, kể từ khi thọ Cụ túc giới, học tập hành trì tạo ra nền hữu học vững chắc, nghĩa là trong 5 năm đầu chuyên tinh giới luật, 5 năm sau nghe kinh thuyết pháp tham thiền. Rồi trọn đời, tùy theo năng lực, trên cơ sở ấy tiếp tục tham khảo, tạo luận hay sớ, sao kinh luật, trước trác, dịch thuật… Nói đến dịch thuật thì Tỳ kheo xứng đáng ngồi vào ghế dịch trường trước phải thành tựu Học nhân, chính là thành tựu giới, định, tuệ, nghĩa là Tam Tạng Kinh điển phải học hiểu xuyên suốt. Chính vì vậy, nền dịch kinh từ Phạm sang Hán trên ngàn năm của Trung Hoa đã sản sinh ra những Học nhân lỗi lạc, tiêu biểu như Đạo An (312-385) trong quá trình dịch kinh đúc kết thành “Ngũ thất bản, Tam bất dị”, Cưu-ma-la-thập (344-413) thì có Lý Luận dịch kinh”, Ngạn Tông (557-610) thì nêu lên tám tiêu chuẩn phải hội đủ và 10 điều qui định, đó là “Bát Bị Thập Điều”, Huyền Tráng (602-664) thì nêu ra 5 việc không cần thiết phải phiên dịch mà chỉ phiên âm Phạm gọi là “Ngũ chủng bất phiên”, Tán Ninh (919-1001) đề ra “Tân Lục Lệ”v. v… (Xem Lịch sử dịch kinh Trung Hoa, dịch giả HT Thích Phước Sơn). Qua đó cho thấy công phu tu tập của Học nhân tinh tấn vô cùng. Và sự tinh tấn ấy như thế nào thì đọc Truyện Cao Tăng hay các Lục trong suốt thời gian dài dịch kinh qua các triều đại thì rõ. Vì giới hạn bài viết nên chỉ đơn cử công phu của ngài Huyền Tráng như sau: “Năm Trinh Quán 23, tháng 5, năm Canh Ngọ, Pháp sư trở lại chùa Từ Ân. Từ đó về sau ở đây, chuyên công việc phiên dịch, vứt bỏ mọi thứ, ẩn mình giữ lấy tâm hồn. Mỗi ngày tự lập khóa trình, nếu có ngày không làm hết công việc thì quyết tiếp tục làm thêm vào ban đêm. Sau khi sửa chữa rốt ráo vấn đề gặp phải, mới chịu dừng bút. Thu nhiếp kinh rồi, lại lễ Phật hành đạo, đến canh ba tạm ngủ, canh năm lại thức dậy, đọc tụng Phạm bản, điểm đỏ thứ tự vấn đề, dự thảo chỗ phiên dịch sáng hôm sau. Mỗi ngày xong hành trang, hai thời hoàng hôn, giảng kinh luận mới, và Tăng thính học v.v..ở các Châu luôn đến thỉnh nghĩa những chỗ khó hiểu, giải tỏa mối nghi ngờ” (Truyện Từ Ân).

Và việc Học nhân Viên Trắc trộm học như thế nào, khi ngài Huyền Trang giảng dịch kinh thì Truyện Cao Tăng đời Tống, quyển 4, truyện Viên Trắc kinh sư chùa Tây Minh, đời Đường, lược tóm như sau:

“Sư Tráng vì sư Cơ (Khuy Cơ) giảng phiên dịch Tân Duy Thức Luận tại chùa Từ Ân, Trắc đút lót làm người giữ cửa, ẩn mình lắng nghe ghi chép, về chùa liền biên sọan thành chương nghĩa. Vừa mới thôi giảng, Trắc ở chùa Tây Minh, nghe chuông tập chúng, báo giảng Duy Thức. Tráng giảng Du-già, Trắc liền quay trở lại, cũng như trước trộm nghe ghi nhận luận đó”.

Còn với nước ta, cũng không thiếu những tấm gương hữu học như vậy, có thể tìm thấy trong Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam hay trong Tổng tập Văn Học Phật Giáo Việt Nam do Lê Mạnh Thát biên khảo, cũng như Lịch Sử PGVN của các tác giả khác. Chính những Tỳ kheo Hữu học này đã đóng góp cho nền văn học những bộ kinh văn, những áng thơ văn đậm sắc thái thiền vị, giải thoát, mang bản sắc dân tộc tạo nên kho tàng văn hóa không chỉ riêng cho Phật giáo… Hầu như thời nào văn học Phật Giáo cũng song đôi với văn học nước nhà. Có thể thấy gần đây cả nước đã rộ lên “văn hóa nén hương, bát nước” đi cùng với “văn hóa Đại Hồng Chung”. Bởi vì hai thứ văn hóa ấy mang tính công đức sâu xa, mầu nhiệm nói lên thể tính siêu việt của “hữu học”. Hương ấy là hương giới, hương định, hương Tuệ, hương giải thoát, hương giải thoát tri kiến [2]. Còn tiếng chuông ấy khiến cho đối tượng nghe dù ở cảnh giới này hay cảnh giới khác, phiền não vơi đi, trí tuệ lớn lên, bồ đề sinh ra, xa lìa địa ngục, ra khỏi hầm lửa, thành Phật độ chúng sanh. Bởi vậy “Hữu học” luôn là nhân lành trong cuộc sống làm thềm bậc bước qua khổ đau đạt được giải thoát giác ngộ. Cho nên kinh điển xác định Học nhân Tỳ kheo là cái nhân của A-la-hán, của địa thứ 10 là Phật địa, Nghĩa là từ Hữu học đến Vô học.

Tỳ kheo Hữu học, bậc Trượng phu là vậy.


[1]Lược trích dịch từ Tự Điển Phật Quang

[2]Dụ cho 5 phần pháp thân là năm thứ công đức đầy đủ trong tư thế của Phật và A-la-hán đó là: Giới thân; Định thân; Huệ thân; Giải thóat thân; Giải thóat tri kiến thân (TĐPQ)

Trang Ảnh

Pháp Âm

Thống kê

Hiện có 5 khách đang trực tuyến

55

2652

91919

 

Âm lịch

Copyright @ 2009-2010 Chùa Kỳ Viên Trung Nghĩa
132 Sinh Trung, Nha Trang, Khánh Hòa, Việt Nam
Điện thoại: +84.58.3827197; 3500252
Cố Vấn: Hòa Thượng Thích Trí Viên | Biên Tập: ĐĐ. Thích Huệ Pháp
Thư điện tử xin gởi về: huephap@gmail.com
Ghi rõ địa chỉ nguồn "kyvientrungnghia.com" khi đăng lại từ trang web này