“Tam điểm như tinh tượng.
Hoành câu tự nguyệt tà.
Phi mao tòng thủ đắc.
Tố Phật dã do tha.”
(Vũ Tiềm)
(Ba điểm như sao sáng,
Móc ngang vầng trăng tà.
Sa đọa hay thành Phật,
Cũng Tâm ấy mà ra.)
Cái vành trăng khuyết mà Nguyễn Du nói là một cái âu thật to nhưng không thể đủ để đựng ba ngôi sao bé nhỏ, tuyệt vời. Chỉ có một hạt nước mắt (chính tâm) rơi thẳng vào cái âu đó. Còn hai giọt nước mắt kia (tà tâm và muội tâm) thì văng ra ngoài, bởi vì chúng là những hạt nước mắt vương vãi khắp nơi. Nước mắt là câu chuyện của muôn đời. Ta có thể khóc ngay khi ta đang mỉm cười, vui cũng khóc mà buồn cũng khóc.
Chữ Tâm quả thật khó định vị. Không thể xác định được đó là nước mắt đang rơi hay ngọn lửa đang cháy. Đa số cho rằng Tâm là biết thông cảm với tất cả mọi người dù có thể là sai (?)
Tâm lý học kết luận rằng “Suy tư của bản thể là nguyên nhân khởi đầu của một hành động”, nên ai cũng có năng lực và hành động riêng của mình. Đứng về mặt thế gian đây là một phương thức để con người tìm tòi, học hỏi, phân tích, khi họ đã gặp, đang gặp phải những hiện tượng, kết quả của bản thân, hoặc những cá nhân trong xã hội cần đến sự cố vấn, giải quyết về mặt tinh thần ở đời sống. Dòng suy tư là biển cả có tính chất biến thái, đa dạng, trước sau không đồng thể, ngược lại quan niệm về tâm lý của con người hoàn toàn dựa trên những hành động kinh nghiệm góp nhặt từ muôn thuở, rồi con người lại dùng trí phân biệt để kết luận “thương - ghét, đúng - sai”. Nhưng suy tư vẫn là một dòng tư tưởng tiếp diễn không ngừng trong dòng sinh diệt, kẻ đang suy tư mang tâm hồn đẹp đẽ, hành động và khung cảnh trong tầm mắt khối óc của người này đẹp đẽ, nếu gặp một dòng suy tư điên đảo thì hành động và cảnh vật của người này đều nằm trong điên đảo. Sự kết tụ bằng yếu tố tâm và sinh qua ngưỡng cửa nhận thức đã trở thành một định nghiệp, có khả năng lôi kéo con người trôi lăn trong vòng sinh tử. Suy tư là một kết hợp của niệm khởi, và niệm khởi được chúng ta nuôi dưỡng thì nó chính là một hạt giống đã gieo vào trong dòng đời sinh diệt, đã sinh diệt thì đẹp xấu, cao thấp, từ cõi thấp như địa ngục đến cõi trời vô sắc giới cũng chỉ là giả tuớng do nhân duyên kết tụ, khác biệt là niệm ác chúng sanh đọa vào đường dữ, niệm thiện chúng sanh được thác sanh vào cõi lành..
Nhân loại cho rằng con người được hình thành do tinh cha huyết mẹ, khác biệt về hình tướng, đời sống, tánh tình của con người, thì không ai dám quả quyết là nguyên nhân nguồn gốc từ đâu mà có? Thế giới văn minh, khoa học tiến bộ, cũng không giải thích được tại sao có sự khác biệt này, nên con người chấp nhận như một định mệnh đã được an bài, sắp đặt sẵn bởi đấng tối cao vô hình. Thật ra đấng tối cao này chính là “Ta”, vì “Ta” hôm nay là nhân vun trồng từ tiền kiếp. “Ta” tương lai tức nhân vun trồng của đời nay. Trong kinh Pháp Cú, Phật dạy rằng: “Dục tri tiền thế nhân, kim sinh thọ giả thị. Dục tri lai sinh quả, kim sinh tác giả thị.” Muốn biết “Ta” trong tiền kiếp đã gieo nhân gì, thì hãy nhìn cái quả hiện tại, và muốn biết “Ta” đời sau như thế nào cũng nhìn vào cái mình đang vun trồng ngày hôm nay. Lời nói hơn hai ngàn năm trăm năm nhưng vẫn có giá trị, không bị mai một bởi thời gian, không gian. Suy gẫm điều này chúng ta không còn gì để thắc mắc về sự không công bằng của đời sống mình và nhân loại. “Thiện hữu thiện báo, ác hữu ác báo. Nhược hoàn bất báo, thời thần vị đáo” Cội nguồn sinh tử hay nguồn gốc của vạn pháp do bởi tâm niệm của chúng sinh mà kết cấu, bởi thế kẻ làm người ắt phải biết mình đã vun trồng hạnh nhân thừa trong tiền kiếp.
Trong Kinh Thập Thiện, Phật đã dạy rằng: “Nhất niệm sân tâm khởi, bách vạn chướng môn khai”, chỉ một khởi niệm sân mà kết quả là muôn ngàn chướng ngại nẩy sanh. Hoặc “Nhất sân chi hỏa năng thiêu vạn khoảnh công đức chi sơn” (Một đóm lửa sân có thể đốt đi vạn khoảnh rừng công đức). Huống chi chúng ta đã bao nhiêu đời nổi trôi trong lục đạo, niệm sân đã chồng chất còn hơn cát sông Hằng. Vấp ngã quá nhiều nhưng chúng ta vẫn sống trong hoài nghi chấp ngã, chết cũng mang theo chấp ngã hoài nghi, đời này qua kiếp nọ, loại độc nầy đã tích tụ trở thành một khối vô minh che đậy cái thật có của chúng ta.
Khi niệm khởi mà chúng ta không nhìn lại để biết nó là hư vọng, thì chắc chắn sẽ bước vào con đường tạo nghiệp. Còn niệm tức còn pháp, vô niệm tức pháp không sinh, đây cũng là then chốt để Thượng tọa Minh được khai ngộ khi cầu Pháp với Lục Tổ, câu nói thật đơn giản “Không nghĩ thiện, không nghĩ ác, cái gì là bổn lai diện mục của Thượng tọa Minh?”, Thượng tọa Minh đã bừng tỉnh, nhận ra được tâm chân thật hằng tri, hằng giác mà bao ngày bị vùi chôn bởi những vọng niệm sinh diệt. Ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ cũng dạy rằng người tu là phải quay lại nhìn mình, câu này ai cũng biết nhưng kẻ thật sự quay lại nhìn mình lại có mấy ai. Người xưa cũng đã nói: “Các nhân tư tảo môn tiền tuyết, bất quán tha nhân ốc thượng sương.” Tuyết ngập đầy nhà mình không lo quét dọn, cứ lo chỉ trích nhà thiên hạ phủ sương. Tạo hóa cho mình đôi mắt, nhưng điều đáng buồn là khi nhìn mặt mình thì phải trông cậy đến gương. Đôi mắt xác thịt hòa lẫn với tham dục hư dối ở nơi ta, nên cuộc đời thường gặp phải gian truân. Quay lại nhìn mình chúng ta phải sử dụng đôi mắt trí tuệ, chỉ có mắt trí tuệ mới thấy và nhận được ta. Ví như một kẻ đang du hành mà đường đi không biết, lạc đường chẳng hay, thì ngày nào quay đầu trở lại.
Chúng ta thụ hưởng niềm an bình nội tại và cảm thấy an lạc cùng hài lòng khi cuộc sống qua đi một cách êm ả, và chúng ta tạo được những mối quan hệ tốt đẹp, sức khỏe khả quan, tài chính sung túc. Thông thường thì chúng ta ở trong trạng thái hòa bình khi không có gì để lo lắng, không có căng thẳng.
Nhưng cuộc sống hằng ngày không phải luôn luôn như thế. Luôn luôn có điều làm chúng ta lo lắng, căng thẳng và những điều đó không để chúng ta cảm thấy an bình tĩnh lặng. Tuy thế, chúng ta có thể hưởng thụ hòa bình, bất chấp tình trạng của những hoàn cảnh bên ngoài. Tâm tự hòa bình là một thể trạng nội tại, nó độc lập với những hoàn cảnh ngoại tại. Tại sao phải chờ đợi đến khi nào có những hoàn cảnh thuận lợi? Tại sao lại để những hoàn cảnh bên ngoài quyết định cho tình trạng tâm thức của chúng ta?
Khi phải suy nghĩ, chúng ta hãy chọn những tư tưởng tích cực, vui vẻ, thăng hoa tâm hồn. Hãy suy nghĩ và tưởng tượng những gì chúng ta thật sự chân thành mong muốn và chúng sẽ đến để qua đi. Luôn luôn nhớ rằng đời sống được định hình tùy theo tư tưởng. Khi tâm tư bình lặng là có hạnh phúc nội tại và ngoại tại. Nó là một vốn quý để có thể làm tĩnh lặng tâm hồn.
Việc đạt đến sự thanh thản của tâm hồn, “Tâm bình”, niềm tự do thật sự khỏi sự cưỡng bức của suy tư, là rộng mở tâm hồn với tất cả mọi người, nó cung cấp một sự rèn luyện thích đáng được bảo đảm. Nếu chỉ nói thôi chúng ta sẽ không thể mang đến sự hòa bình của tâm hồn, mà cần phải hành động. Khi bị những đám mây che, mặt trời vẫn ở đấy phía sau những đám mây. Bản chất của chúng ta, chân tính, Phật tính cũng luôn luôn ở đây. Chúng ta chỉ cần vén những tấm màn vô minh cũng như những vật che đậy nhằm trải nghiệm bản chất của hòa bình và tĩnh lặng mỗi người chúng ta sẽ có được: “Tâm bình thế giới bình”.
Trọng Hạ Canh Dần - 2010





55
2652
91919
