Những đức hạnh căn bản và cao quý trong đạo Phật

Tác giả: Nguyên Lai

    

Đôi lần thỉnh giáo và đàm đạo Phật pháp với quý Thầy, quý Sư cùng các vị đạo hữu tại gia. Quý vị có nhận xét góp ý: Trong Tâm thị 10, Nguyên Lai viết bài “Những đức tính cao đẹp trong đạo Phật” là hay là cần thiết nhưng chưa đủ để đến với cứu cánh đạo Phật mà cần phải rèn luyện thêm những đức hạnh cao quý nữa mới đủ điều kiện: cần và đủ để đến bờ giải thoát.

Nguyên Lai xin tri ân lời chỉ giáo và cũng xin mạo muội viết lên những đức hạnh cao quý trong đạo phật, phần nào góp thêm sắc hoa trong vườn hoa Phật pháp. Đồng thời kính dâng lên ngày Thành Đạo của Đức Giáo chủ Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

1. Đức hạnh hiếu - kính (hiếu hạnh)

“Đạo dĩ Ân vi Tiên

Tu dĩ Đức vi Bổn”

“Cây có cội, nước có nguồn” đạo lý này nhắc nhở chúng ta luôn nhớ ơn tổ tiên cha mẹ và những tiền nhân đi trước tạo lập để có ngày hôm nay:

Kính tổ tiên, hiếu cha mẹ, tôn sư trọng đạo. Toàn tâm toàn ý kính ngưỡng tri ân Tam bảo, khát khao tu học phật pháp.

Đức hạnh hiếu kính là nền tảng vững chắc ban đầu để những ai đi trên con đường đạo Phật, con đường đến với đạo Phật không nhất thiết phải xuất gia vào chùa vào viện.

“Tu đâu cho bằng tu nhà

Thờ cha kính mẹ cũng là đi tu”.

Hạnh phúc thay! Tứ chúng đồng tu; Khi ta đạt được đức hạnh hiếu kính sẽ có những đức tính khác theo đó nảy sinh theo. Tính khiêm cung, lễ độ, tôn trọng mọi người, biết yêu thương thân nhân, giúp đỡ mọi người một cách vô ngã vị tha.

Lúc đó bản tâm ta sẽ có tự tính vô ngã. Tính tự cao, tự đại, ngã mạn tự nhiên triệt tiêu, người làm tròn hiếu đạo, nhân đạo tức là làm tròn Thiên đạo và đang bước đi vững chắc trên đường Phật đạo. Đạo hạnh ắt sẽ tăng trưởng đơm hoa kết trái. Nên nhớ rằng: Những bậc Thánh nhân, Thánh Tăng từ cổ chí kim đều là những người con chí hiếu.

Hạnh phúc thay! Những người con chí hiếu

2. Đức hạnh kham - nhẫn (khổ hạnh)

Kham - nhẫn là cha của thành công, là mẹ đẻ ra mọi công đức.

Đức Phật gọi cõi nhân gian chúng ta là cõi Ta bà. Cõi Ta bà tạm dịch là cõi khổ, cõi nhẫn, cõi bất như ý. Tâm chúng ta phải tu quán điều này. Mấy ai giải thoát khổ đau mà không nếm mùi vị của đau khổ. Chính ở cõi khổ ta mới hiểu thế nào là nhẫn và cần nhẫn để vượt khó vượt khổ, tinh tấn dấn thân trên đường tu hành. Chính nhờ khổ mới sinh ra phước, ra hạnh, khổ cũng là cơ hội để chúng ta chuyển hóa phiền não thành Bồ đề “đất lửa thử vàng”.

Nhẫn thân là phải biết chịu thương, chịu khó, chịu khổ. Khổ để trả nghiệp, khổ để dứt khổ, phải biết vui trong cảnh khổ (khổ trung lạc), không than thân trách phận.

Nhẫn khẩu là ăn uống biết tiết thực, nói năng chánh ngữ, lựa lời. Danh y Hải thượng Lãn Ông thường nhắc nhở: “Bệnh tật từ miệng vào, tai họa từ miệng ra” là ý này.

Nhẫn ý: Phải biết kiềm chế tánh tham lợi, tánh nóng nảy mất bình tĩnh. Mất bình tĩnh sẽ sinh ra ngu muội, từ ngu muội sẽ sinh ra tạo nghiệp.

“Dưỡng tâm ý, mạc nhược quả dục” tạm dịch dưỡng tâm ý, không gì bằng hạn chế sự ham muốn.

Nhẫn thân, khẩu, ý là điều kiện để chúng ta hành Thập thiện và tránh mười điều ác.

Nhẫn là nhất tự chân ngôn, là bài kinh sống tụng không cần chuông mõ. Nhất là các hành giả Pháp Hoa tu theo hạnh Bồ tát giới Lục độ Ba la mật.

Cái nhẫn của người Phật tử khác với cái nhẫn của người đời. Người đời nhẫn nhiều mục đích, ẩn nhẫn chờ thời, tìm cơ hội để vươn lên, tranh giành, phục thù hoặc trả đũa “Quân tử trả thù mười năm chưa muộn” là ý trên.

Còn cái nhẫn của người Phật tử là phương tiện để rèn đạo tâm tự tại, thanh thản,tập tính từ bi, lập hạnh buông xả để đến với cứu cánh đạo Phật. Khi tâm ta đạt đến cảnh giới ung dung tự tại, thanh thản thì tám thứ gió của cuộc đời (vinh - nhục; khen - chê; được - mất; hạnh phúc - khổ đau) không còn làm cho tâm ta điên đảo, lo âu, sợ sệt mà ngược lại lúc nào cũng an lạc “Năng nhẫn tự an”.

An lạc thay! Những người năng nhẫn.

3. Đức hạnh Trì giới (giới hạnh)

Giới đứng đầu trong Tam vô lậu học (Giới luật - Định tâm - Trí huệ) là một trong ba môn học căn bản mà bất cứ ai tu pháp môn nào cũng đều phải lĩnh hội.

Điều muốn nói ở đây là giữ giới không nên thái quá rập khuôn, giáo điều sẽ sinh ra chấp giới, cứng nhắc thiếu trí tuệ. Điển hình trong giới thứ 4 là không nói dối, nhưng nói dối mà cứu được người là làm lợi cho tha nhân... là việc thiện mà việc thiện thì nên làm, đó gọi là “biết nói dối” giữ giới có trí tuệ.

Câu chuyện sau đây phần nào nói lên điều đó: Vào thời Tam quốc, Tào Tháo dẫn 10 vạn quân đi đánh Trương Tú gặp lúc khô hạn trời nắng gắt như dội lửa, quân sĩ phải vượt cánh đồng hoang rộng mênh mông. Ai nấy đều khát khô, rát cổ nguy cơ chết khát có thể xảy ra, tinh thần rệu rã, thân xác rã rời. Bỗng nhiên Tào Tháo cười ha hả phóng ngựa lên đồi cao, giơ roi chỉ về phía trước cao giọng nói với tướng sĩ rằng: Hỡi các tướng sĩ phía trước kia là một rừng mơ lớn, trên cây chi chít quả mơ vừa chua vừa ngọt vừa nhiều vừa to, chúng ta hãy mau đến đó ăn mơ. Tướng sĩ nghe nói lập tức nghĩ đến vị chua, ngọt, nước miếng ứa ra cơn khát giảm dần, tinh thần phấn chấn tiến lên phía trước, nhờ thế cuối cùng đoàn quân của ông cũng vượt qua được hoang mạc khô rát thoát khỏi nguy cơ chết khát.

Giới hạnh là gốc rễ của sự buông xả, thanh lọc tâm. Là cánh cửa bước vào cứu cánh Niết bàn, hay nói cách khác cứu cánh Niết bàn không thể thiếu Giới - Định - Huệ.

Giáo pháp và Giới luật mà đức Phật ban tặng cho chúng ta như một ngôi vườn đầy hoa thơm, trái ngọt. Vấn đề còn lại là của chúng ta có biết vun đắp chăm bón, thu hoạch được hay không, nhiều hay ít là do mỗi chúng ta mà thôi.

Có người nói tại sao tôi tụng kinh, niệm Phật, trì chú mà sao không thấy cảm ứng. Thì bạn nên xem lại tâm bạn có thành! Ý bạn có vụ lợi hay không! Lời nói có thật thà không? Nếu bạn trì giới luật nghiêm túc, tôi tin chắc rằng bạn cầu Phật có Phật, vái Trời có Trời, khấn đất có đất.

Cao quý thay! Những người trì giới viên dung.

4. Đức hạnh buông xả (bố thí hạnh)

“Vô vi cố vi hại, vô chấp cố vô thất”

(Lão Tử)

Tạm dịch: Không làm thì không bị hại, không giữ lấy gì mất.

Con đường tu hành có người xuất thế vô vi, có người nhập thế hành đạo, người Tăng sĩ, khất sĩ, kẻ tại gia cư sĩ. Nhưng dù ở phương diện nào, hoàn cảnh nào cũng đều phải sống với tâm buông xả. Không chấp trước, vấn vương, luyến tiếc bất cứ thứ gì ngay cả thân mạng. Ai buông được người đó ra đi, ai vấn vương luyến tiếc thì người đó ở lại.

Chúng ta phải tu quán điều này: Chúng ta đến nhân gian này từ hư không, sinh ra mình trần tay trắng không mang theo thứ gì đến trần gian cả, mà tại sao khi ra đi lại luyến tiếc, thân tứ đại xin trả về cho tứ đại.

Ta sống trong cuộc đời nhưng phải biết vượt lên trên cuộc đời, đừng để cuộc đời này xỏ mũi dẫn dắt chúng ta, làm kẹt chúng ta, ràng buộc chúng ta.

Tâm là tâm. Cảnh là cảnh. Tâm cảnh như như, muốn vậy phải nhìn thấu bản chất thực của nó: là đau khổ, là vô thường, là huyễn, lúc ấy tâm ta mới thực sự buông xả mà không luyến tiếc, sợ sệt âu lo, mộng tưởng thì đó là giải thoát là Niết bàn. Đúng như Tâm kinh Bát Nhã đã dạy: “...Tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố viễn ly điên đảo mộng tưởng cứu cánh niết bàn...”

Đối với cứu cánh đạo Phật, phải sống với tâm buông xả.

“Sống là động, nhưng lòng luôn bất động

Sống là thương, nhưng lòng chẳng vấn vương

Sống an vui, danh lợi mãi coi thường

Tâm bất biến giữa dòng đời vạn biến”.

Đức hạnh cao quý thay! Những người đã thoát khỏi sự ràng buộc.

Trang Ảnh

Pháp Âm

Thống kê

Hiện có 5 khách đang trực tuyến

54

2651

91918

 

Âm lịch

Copyright @ 2009-2010 Chùa Kỳ Viên Trung Nghĩa
132 Sinh Trung, Nha Trang, Khánh Hòa, Việt Nam
Điện thoại: +84.58.3827197; 3500252
Cố Vấn: Hòa Thượng Thích Trí Viên | Biên Tập: ĐĐ. Thích Huệ Pháp
Thư điện tử xin gởi về: huephap@gmail.com
Ghi rõ địa chỉ nguồn "kyvientrungnghia.com" khi đăng lại từ trang web này