Buông xả nghĩa là từ bỏ một vật gì đó thuộc sở hữu, thói quen, và những ý niệm đã gắn liền với chúng ta trong suốt thời gian dài, thật hết sức khó khăn không phải đơn giản, ai cũng có thể làm được. Tuy nhiên, nếu không buông xả thì chúng ta sẽ không bao giờ có được tâm thảnh thơi, đời sống an ổn và hạnh phúc.
Thật vậy, cuộc đời của Thái tử Tất Đạt Đa từ khi đản sinh cho đến ngày nhập niết bàn là một tấm gương sáng, một hình ảnh sáng chói và bài học sống động đã trải dài qua nhiều thế kỷ, cho đến hôm nay vẫn chưa có một tấm gương nghị lực, kiên định nào khác có thể để chúng ta so sánh.
Thái tử Tất Đạt Đa đã từ bỏ ngai vàng điện ngọc, vợ đẹp con ngoan, danh vọng quyền quý bậc nhất và những nhu yếu vật chất cần thiết thật hoàn hảo phục vụ cho đời sống là một hành động hết sức khó khăn và mãnh liệt. Trong lúc tầm cầu học đạo, Ngài cũng từ bỏ luôn cả những sự hỗ trợ trong các đường lối tu tập. Những vị Thầy đầu tiên gặp gỡ khi mới xuất gia, Thái tử Tất Đạt Đa tới tầm cầu học hỏi, Ngài cũng đã từ chối và quyết định rời bỏ họ ra đi khi quả quyết rằng lối tu đó không mang lại kết quả rốt ráo và không đủ khả năng giải thoát con người ra khỏi luân hồi sinh tử. Những người bạn đồng tu, Ngài cũng lần lượt chia tay họ, khi nhận ra rằng các lối tu khổ hạnh, ép xác hay hưởng thọ dục lạc cũng chỉ là nhọc công không phải con đường trung đạo, thực hành đúng pháp.
Cho đến khi thành đạo quả, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni cũng không yên vị dưới cội Bồ đề, nơi Ngài tìm ra chân lý để hưởng thọ pháp lạc của thiền định, mà lần lượt bước đi nơi này qua nơi khác, mặc cho những nguy hiểm bao phủ xung quanh, Ngài đã không trụ vào nơi đâu để được tôn vinh, mặc dầu Ngài xứng đáng được nhận sự cúng dường của Trời người, mục đích xuất hiện của Ngài giữa cuộc đời là làm lợi ích được cho chúng sanh hữu duyên.
Ngày nhập Niết bàn, Ngài cũng khẳng định với các đệ tử rằng, chánh pháp luôn trường tồn dù có mặt hay không có mặt của Ngài ở thế gian này, nếu các đệ tử Ngài biết lấy chánh pháp làm ngọn đèn, biết nhận mình là hòn đảo tự thân, nên nương tựa. Chưa bao giờ đức Phật có ý niệm chủ quyền, chủ tạo và khinh xuất người khác không làm được gì, Ngài đã từ bỏ tất cả, mang tâm và thân thong dong làm sáng tỏ đạo mầu. Tất cả quá trình hành đạo của đức Phật tựa như một bức tranh bất hủ tồn tại giữa cuộc đời này, được gói gọn trong một bài kinh ngắn sau đây:
“Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, dạy các Tỷ kheo:
Này các Tỷ kheo, cái gì không phải của các ông, hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các ông.
Này các Tỷ kheo, cái gì không phải của các ông? Sắc, thọ, tưởng, hành và thức không phải của các ông, hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc.
Ví như, này các Tỷ kheo, có người gom cành, lá của Jetavana này đem đốt hay tùy duyên sử dụng. Các ông có nghĩ rằng đem đốt hay tùy duyên sử dụng chúng?
Thưa không. Vì sao vậy? Vì những cái ấy không phải của chúng con. Bạch Thế Tôn, những cái ấy không thuộc tự ngã chúng con.
Cũng vậy, này các Tỷ kheo, Sắc, Thọ, Tưởng, Hành và Thức, không phải của các ông, hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó, các ông sẽ được hạnh phúc, an lạc.
(ĐTKVN, Tương Ưng Bộ III, chương 1, phẩm Không phải của các ông [lược], NXB Tôn Giáo 2000, tr.67)
Cái gì là của ta? Khi biết rằng Sắc, Thọ, Tưởng, Hành và Thức đều không phải là của ta, tất cả đều do nhân duyên hòa hợp sanh ra và rồi nó sẽ tan hóa theo duyên. Sắc là tấm thân vật chất và được hiểu như là thế giới vật chất, hoàn cảnh xung quanh, những tương tác thuộc môi trường sống cơ học của con người, tất cả nó không thuộc về của ta. Có chăng chỉ là tạm mượn, chỉ là chấp vá và chỉ là lầm tưởng thuộc về mình, một sự lầm lẫn đáng sợ. Thọ, Tưởng, Hành và Thức cộng chung với Sắc là Ngũ uẩn. Chúng được hiểu như là các thành phần của tinh thần, tâm lý và nhận thức của con người, nói chung là thế giới nội tâm của con người.
Vậy thì, cả tấm thân này, và thế giới xung quanh của chúng ta không phải là của ta, vậy nơi đâu chúng ta có thể nắm bắt và tồn tại như những gì chúng ta đang là và đang có mặt. Qua cái nhìn quán chiếu và chứng đắc sự sanh khởi của các pháp, được Phật khẳng định, các pháp sinh trưởng và tồn tại trong một pháp duyên sanh duyên khởi, chúng liên tục xoay chuyển, và nương tựa lẫn nhau, do đó để tìm một pháp có chủ tể, có tự ngã thì hoàn toàn không bao giờ có. Những gì chúng ta đang có mặt, và đang tồn tại chính là tồn tại trong sự sanh khởi và tương duyên, nó hoàn toàn Vô ngã.
Cái tôi và cái của tôi là một ý niệm tạm bợ trong ngôn ngữ trần gian dưới đạo lý duyên khởi, nếu ai nhận thức và bám chặt vào nó chính là chuốc lấy tai họa, và khổ đau vào thân, bởi vì chúng ta cầm nắm những gì mà chúng ta không hề nắm bắt được.
Buông xả theo tình thần của đạo lý duyên khởi chính là không chấp thủ, không nắm giữ một cái gì hết. Ta và của Ta chỉ là phương tiện, sự tạm vay mượn để hướng đến mục đích. Vì vô minh và thiếu sự quán chiếu, chúng ta mượn giả làm thật, mượn phương tiện làm cứu cánh. Sống và kiến tạo hạnh phúc trong đời sống hiện tại, bắt đầu cũng từ sự vay mượn các phương tiện, chúng ta không thể thiếu những phương tiện này, tuy nhiên phải nhớ rằng đó là phương tiện và phương tiện cũng sẽ trôi nổi theo duyên sanh.
“Quán Tự Tại Bồ tát hành thâm Bát nhã ba la mật đa thời chiếu kiến ngũ uẩn giai không độ nhất thiết khổ ách…”. Phải thấy Sắc, Thọ, Tưởng, Hành và Thức đều là Không thì mới có sự thảnh thơi, an lạc và hạnh phúc. Đó là thông điệp mà Tâm Kinh Bát Nhã, lời mở đầu đã gửi đến cho chúng ta.
Người học đạo, muốn có được sự giải thoát này, không phải chỉ để học, và để nói, mà phải biết thực hành. Bố tát còn thực hành một cách thâm sâu mới chứng đắc huống hồ một chúng sanh phàm phu như chúng ta thì càng phải nỗ lực hơn nữa, mới hầu mong thoát khỏi, sự quay khép của chấp thủ.
Thật đáng sợ biết bao khi tâm của chúng ta cứ bám vào những gì không thật và những gì không hoàn toàn thuộc về, hiểu được như thế thì chúng ta hiểu được sự thành đạo của đức Phật mang nhiều ý nghĩa thật sự. Bài học buông xả mà đức Phật tự thân chứng chính là kim chỉ nam cho hàng Phật tử chúng ta hướng tới và hoàn thiện chúng trong kiếp sống luân hồi đầy khổ đau này để tìm về một chốn thảnh thơi thật sự có an lạc trong thế giới tương duyên, tạm bợ này.





54
2651
91918
