Thông thường, khi nói đến Phật tháp Trung Hoa là người ta nghĩ ngay đến nền nghệ thuật kiến trúc Chùa tháp của Phật giáo Trung Hoa. Mô hình nghệ thuật này được kế thừa từ dòng nghệ thuật kiến trúc Phật giáo Ấn Độ với nền kiến trúc cổ đại lâu đời của dân tộc Trung Hoa - nền nghệ thuật đặc sắc, mang đậm tính khoa học. Đó là sự dung hợp hài hòa giữa luận lí Phật giáo với văn hóa bản địa Trung Hoa; là sự kết hợp chặt chẽ giữa kỹ thuật kiến trúc với mỹ thuật tạo hình, làm nên điểm sáng đặc trưng cho Phật giáo cũng như con người, văn hóa Trung Quốc.
Do Phật giáo bắt nguồn từ Ấn Độ, nên kiến trúc ở đây phần lớn còn ảnh hưởng triết lý kinh Vệ Đà, nó là cái gì đó rất đơn sơ. Loại hình nghệ thuật này chỉ bắt đầu có sau khi đức Phật nhập Niết bàn, từ mô hình tích trượng, bình bát và ba y (trước đó đức Phật đã gợi ý) mà từ từ triển khai thành lối kiến trúc Phật tháp với nhiều mẫu mã và vật liệu khác nhau.
Trước khi có Tịnh xá Trúc Lâm (vua Tần Bà Sa La dâng cúng), cũng như Tịnh xá Kỳ Hoàn (trưởng giả Cấp Cô Độc hiến cúng), đức Phật và Tăng chúng trong giáo đoàn chỉ cư trú dưới lối kiến trúc của người Nguyên thỉ là dưới gốc cây (kiến trúc gốc cây)[1]. Mỗi ngày, chư Tăng theo đức Phật khất thực, sau đó về và ở dưới gốc cây, nghe Phật thuyết pháp, thiền định, kinh hành, tối cũng ngủ dưới gốc cây.
Lúc này, Phật giáo chưa có Tự viện. Sau khi được vua Tần Bà Sa La cúng vườn trúc, cũng như Trưởng giả Cấp Cô Độc cúng vườn cây thì mới xây dựng nên Tịnh xá Trúc Lâm, Kỳ Hoàn. Tuy đây được coi là khởi nguyên của kiến trúc Phật giáo, nhưng nhìn chung thì vẫn còn rất đơn sơ. Lúc này không có Chùa, Tự viện cũng không, chỉ có giảng đường làm nơi đức Phật thuyết pháp, giảng kinh. Xung quanh giảng đường là các Tăng xá để chư Tăng thiền định, nghe pháp và sinh hoạt.
Tương truyền rằng vào những năm cuối đời của đức Phật, nhân thấy dung nhan của Ngài ngày một suy yếu, vị thị giả A Nan mới bạch đức Phật: Bạch đức Thế tôn, sau khi Ngài vào Vô dư Niết bàn, chúng con lấy gì để tưởng nhớ đến Ngài thì đức Phật ung dung lấy y, bát và tích trượng dựng lên làm biểu tượng Tháp[2]. Do đó, sau khi đức Thế Tôn nhập Niết bàn, trà tỳ thâu lấy xá lợi, phân chia làm bảy phần cho bảy nước, và mỗi nơi đều y theo mô hình đó mà xây tháp riêng biệt để thờ xá lợi cũng như các di vật của Ngài – thế là mô hình Phật tháp có từ đó, lối kiến trúc đặc trưng của Phật giáo bắt đầu được hình thành.
Vâng, Phật tháp là nơi tôn thờ đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật nên rất được tôn nghiêm hưng thịnh đối với đại đa sốn người dân Ấn Độ cũng như Trung Hoa. Họ rất chú trọng đến việc sùng bái mẫu vật, đây là một tư tưởng đại diện cho lý tưởng văn hóa của dân tộc.
Về nguồn gốc, xét cho cùng thì cũng ít có sử liệu nào có thể xác định rõ, đại Tháp ở Kiến Chí (Ấn Độ ngày nay), xây dựng vào khoảng thế kỷ III (TCN) được coi là một trong những tác phẩm kiến trúc nghệ thuật Phật tháp đầu tiên của Phật giáo, với dạng hình vòm (bát úp, chuông úp), có nhiều chạm trổ khác nhau.
Và khi đến Trung Quốc, do ảnh hưởng nặng đến lễ giáo, phong tục tập quán, địa lí, khí hậu, cũng như kết cấu vật liệu... nơi đây mà kiến trúc Phật tháp, Tòng lâm... có nhiều thay đổi về hình dạng, kiểu cách[3]. Có thuyết cho rằng Phật giáo đến Trung Quốc từ thế kỷ thứ III (TCN), dưới sự trị vì của vua A Dục; lại có thuyết cho là mãi đến thế kỷ I (CN) thì Phật giáo mới truyền đến.., nhưng dù thế nào đi nữa, các học giả cũng đã thống nhất một điều là từ thế kỷ IV (CN) trở đi, người ta mới thấy một nghệ thuật Phật giáo tự lập và đa dạng hoàn toàn trên đất Trung Hoa.
[1]Lối kiến trúc này gắng liền với cả cuộc đời đức Phật: sinh ra, xuất gia, thiền định, thành Đạo, Niết bàn.. cũng đều dưới gốc cây. Điều này cho thấy đức Phật muốn đề cao tinh thần xây dựng con người.
[2]Về thuyết này, trong quyển Thế Giới Phật Giáo - Phương diện Lịch Sử Văn Hóa và Minh Triết của Điền Đăng Nhiên, tr. 176 thì cho rằng khởi nguồn của việc xây Tháp là do Trưởng giả Tu Đạt.
[3] ĐĐ. Thích Tâm Mãn, Vị Trí Nghệ Thuật Kiến Trúc Phật Giáo Trung Quốc.., Bài giảng tại lớp, khoa PGTQ, kháo VII.





54
2651
91918
