Thông thường, đối với các bậc vĩ nhân, hay Thánh nhân, tác phẩm văn hóa tư tưởng của họ đều hội tụ đủ hai yếu tố Thời đại và Phổ quát. Riêng Pháp Bảo Đàn kinh, không chỉ có tác giả được xem là Thánh nhân đương thời mà tác phẩm ra đời cũng đúng vào thời kỳ “trăm hoa đua nở” của Phật giáo Trung Quốc. Do đó tính thời đại và phổ quát của tác phẩm được ví như “Hồi chuông cảnh tỉnh” đối với con người, và đất nước Trung Hoa này.
* Tính đối kháng về giai cấp
Xưa nay, các nhà lãnh đạo tinh thần Phật giáo đôi lúc cũng đấu tranh (đối kháng), nhưng lại là “đấu tranh bất bạo động” về một hay nhiều vấn đề xã hội nào đó. Lục Tổ cũng vậy, tính đối kháng của Ngài luôn mang dáng dấp của một đại sư Phật giáo, Ngài vì một đất nước, con người Trung Hoa cao đẹp mà “hành động”.
Ngài không bao giờ xấu hổ về thân phận của mình trước một ai đó, Ngài chỉ mong sao con người biết yêu thương nhau, không còn nạn “phân biệt chủng tộc” nữa. Ngài thấy rõ cuộc đời chỉ là giấc chiêm bao, con người như bọt nước (như mộng, huyễn, bào, ảnh. - kinh Kim Cang), không biết “tan” lúc nào! Do đó, mọi người cần phải đùm bọc nhau, không nên khinh miệt nhau. Sống ở đời, ai cũng có những ưu khuyết điểm, và ai cũng có khả năng, cơ hội trở thành vĩ nhân (Phật) - được mọi người tôn trọng cả, mà bản thân Ngài là một minh chứng. Chẳng phải năm xưa, đức Thích tôn cũng đã từng dạy: Ta là Phật đã thành, các con là Phật sẽ thành, đó sao?
Lần đầu đến yết kiến, Ngũ Tổ hỏi về lai lịch, Ngài chậm chạp đáp:
“Đệ tử là dân huyện Tân Châu xứ Lãnh
Ngũ Tổ nói: “Ngươi là người xứ Lãnh
Ngài tiếp lời: “Con người tuy có phân Nam Bắc, nhưng Phật tánh vốn không có Nam Bắc. Cái thân man di này cùng với Hòa thượng tuy chẳng giống nhau, chớ cái tánh Phật nào có khác!”.
Ngũ Tổ còn muốn nói chuyện nữa, nhưng thấy chúng môn đồ đứng vây hai bên tả hữu, nên bảo Huệ Năng theo chúng mà làm việc.
Huệ Năng nói vội: “Kính bạch Hòa thượng, tự tâm của đệ tử thường sanh trí huệ, chẳng lìa tự tánh, tức là phước điền, chẳng hay Hòa Thượng còn dạy làm công việc gì?”
Ngũ Tổ quát: “Cái căn tánh của kẻ Man di nầy thiệt lanh lợi. Ngươi chớ có nói nữa, hãy đi ra nhà sau!”
Vừa ra đến nhà sau, có một người cư sĩ sai Huệ Năng bửa củi, giã gạo.
Trải qua hơn tám tháng, một ngày kia, Ngũ Tổ dạy rằng: “Ta nghĩ chỗ tri kiến của ngươi dùng được, song sợ có kẻ ác hại ngươi, nên chẳng nói chuyện với ngươi, ngươi có biết không?”
Huệ Năng liền đáp: “Đệ tử cũng hiểu ý Tôn sư, nên không dám lên nhà trên, để người khác không biết!”
Vậy đấy, từ Quan lại cho đến bà vãi... cũng có thể coi thường Ngài, có lần nghe chú đồng tử vừa đi vừa đọc bài kệ của Thần Tú, Huệ Năng không hiểu, Ngài hỏi, bị đồng tử mắng: ông man di nầy không hay biết chi hết…!
Lúc không ra gì thì bị khinh khi như vậy, đến khi công thành danh toại thì Ngài được kẻ đón người đưa (lên voi xuống chó chẳng mấy hồi!), Vua quan cũng “dĩ hòa vi quý”, thỉnh Ngài vào cung vấn Đạo bằng cả một tấm lòng tôn kính.
* Tính đối kháng về kinh tế, đạo đức.
Thời Đường, Phật giáo Trung Quốc được sự ủng hộ của vua chúa, trưởng giả... nên phát triển cực mạnh. Thế nhưng, phần lớn những vị này chỉ vì danh lợi, lấy lòng người khác, vì mục đích kinh tế (xây chùa làm du lịch) mà đua nhau xây chùa, kiến tượng chứ chẳng mấy ai vì sự giải thoát, trường tồn của Phật giáo. Ấy vậy, đôi khi cũng có người nghĩ đến công đức, như qua câu chuyện vua Lương Võ Đế hỏi Hòa thượng “mặt đen”:
“Ở đây ở đó, trẫm đã xây dựng rất nhiều chùa chiền, trong chùa có rất nhiều vị xuất gia, họ xuất gia đều do trẫm tài bồi thành tựu cho, trẫm lại phát tâm rộng lớn bố thí cúng dường. Trẫm làm hoàng đế không giống như những hoàng đế khác, Trẫm là vị hoàng đế chuyên làm việc tốt, chuyên làm việc công đức. Ngài xem trẫm có bao nhiêu là công đức?”
Tổ Bồ Đề Đạt Ma nghe Lương Võ Đế tự giới thiệu, tự khoe công đức, tự khoe mình, say đắm vào trong tự ngã như thế, nhưng Tổ sư Đạt Ma là vị Thánh nhân, Ngài không nịnh bợ! Nếu là người bình thường, vừa nghe vua nói như thế, liền vội vàng tâu: “công đức của bệ hạ độc nhất vô nhị, trên đời này không có người thứ hai!”. Nhưng Đạt Ma là vị Tổ sư, nên Ngài không có dụng ý xấu để chìu theo ý người. Cho nên liền nói: “không có công đức! Thật, không có công đức nào cả!”
Về vấn đề đạo đức, Lục Tổ đặc biệt đề cao. Ngài cho rằng yếu tố này đối với người tu hành là tối cần thiết, phàm là kẻ xuất gia thì ngày đêm phải khéo hộ niệm, hộ niệm bản thân và cả pháp môn sao cho sống có ích cho Đạo và đời! Ngũ Tổ cũng đã từng dạy Ngài: “Ngươi là vị Tổ đời thứ sáu, hãy khéo tự hộ niệm. Phải quảng độ chúng hữu tình và lưu truyền chánh pháp cho đời sau, đừng để đoạn tuyệt! Hãy nghe bài kệ của ta đây:
Có tình mới gieo giống,
Nhờ đất trái bèn sanh,
Không tình không có giống,
Không tánh ắt không sanh.”
Thật vậy, người xuất gia dù sống trong thời kỳ nào, xã hội nào đi nữa thì cũng cần tinh tấn hộ niệm, nếu không thì không thể gọi là “thế trừ tu phát” được! Về sau, Lục Tổ cũng theo đó mà dạy lại cho ngài Huệ Minh, cũng như chúng đệ tử khác. Xét cho cùng, thì tư tưởng đạo đức giáo dục cũng như văn hóa chính trị nói riêng, tư tưởng mang tính thời đại phổ quát nói chung trong Pháp Bảo Đàn kinh là khá nhiều, nhưng do bài viết có gới hạn nên học trò không thể nêu ra hết được. Ngưỡng mong quý vị độc giả hoan hỷ cho!





52
2649
91916
