Mùa báo hiếu

Tác giả: Hoàng Minh

 

Đàn én rộn rã ríu rít bay lượn trên bầu trời xuân đã đi xa, những cánh sen tinh khiết nở rộ trong các đầm ao mùa Hạ cũng khép lại, nhường cho dòng sông thu lạnh lẽo, man mác khôn nguôi. Hình như khiến tâm trạng mỗi người chúng ta cứ khắc khoải nỗi u hoài nào đó. À! Thì ra, gần đến Rằm tháng Bảy rồi, mùa Vu Lan một lần nữa lại đến với chúng ta!

“Khể thủ Tam giới chủ

Đại hiếu Thích Ca Tôn

Lũy kiếp báo thâm ân

Tích nhân thành Chánh giác.”

Dịch:

“Cúi lạy Thầy ba cõi

Bậc đại hiếu Thích Ca

Báo ân sâu nhiều kiếp

Tích nhân thành Chánh giác”.

Không trách chi những bậc văn nhân, thi sỹ đã để lại những kiệt tác cho đời. Bởi trong lòng những vị ấy luôn ôm ấp tình yêu nghệ thuật. Không như người thường, mỗi khi có việc không thỏa ý, thay vì rủ nhau làm “Chén tạc chén thù” để nguôi ngoai sự đời. Nhưng, các thi nhân lại khác, có khi họ tản bước trên những khu đồi hoang vắng, ngâm ngợi mua vui, có khi mượn chiếc thuyền nan tựa gối thả câu, “Ưu thời mẫn thế”, có lúc lại “Châm trà, chuốc rượu” một mình đến say mới thôi, nhưng trong chỗ say và mang tâm trạng u buồn đó, họ lại bật tuôn những hồn thơ tuyệt tác, hay những áng “Thiên cổ hùng văn”. Chỉ khi ai đó đọc đến thì mới nhận biết được việc thịnh suy của nhân thế. Như Thi hào Nguyễn Du khẳng định:

“Trải qua một cuộc bể dâu

Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.”

Cách nhìn nhận của đức Thích Ca lại siêu việt hơn, thấy núi xương khô, là nơi mọi người ai cũng né tránh, nhưng đức Phật lại xót thương vì Ngài có Phật nhãn, thấy biết được những đống xương kia, trong đó, có cả cha mẹ chính mình đã nhiều kiếp nhuộm sương, phơi nắng. Vì thế, mới để lại cho chúng ta bài kinh Vu Lan, diễn tả nỗi mang nặng đẻ đau của người mẹ từ khi mang thai đến kỳ sanh nở, rồi nuôi dưỡng lớn khôn, dựng vợ gã chồng, chỉ lối làm ăn. Bản kinh Vu Lan đầy tính khoa học và chứa đựng tính nhân văn cao, không những thế, khi đọc lên hay xướng tụng cũng khiến lòng người không khỏi nguôi ngoai, bởi gợi lên tâm trạng người con nhớ thương và nghĩ về ân sâu cha -mẹ. Cho nên, kinh Vu Lan chính là khúc nhạc du dương bất hủ thấm mãi trong tim hàng triệu người con thiết tha muốn báo đền phần nào ơn sanh thành giáo dưỡng. Nếu ai chưa đọc kinh Vu Lan thì một thiếu sót lớn để xây dựng một mái ấm gia đình hạnh phúc.

Ngày Rằm tháng Bảy Vu Lan, không chỉ phổ biến khắp mọi miền đất nước, mà nhiều nước trên thế giới cũng đều biết đến. Lễ này đã có nguồn gốc từ lâu đời, gắn bó nhất với nhân loại, nên dù trải qua mấy nghìn năm vẫn luôn thấm sâu vào lòng người.

VU-LAN-BỒN (Uilambana) - Hành sự - còn gọi là Ưu-lam-bà-noa, dịch là Đảo Huyền, chỉ nỗi thống khổ cùng cực. Theo quyển 13, trong Huyền Ứng Âm Nghĩa: “Vu-lan-bồn là nói sai. Nói đúng là Ưu-lam-bà-noa, dịch là Đảo Huyền. Vào ngày Tự tứ của chư Tăng, theo luật lệ nước Tây Trúc hay bày biện các cỗ bàn linh đình, dâng cúng đức Phật và chư Tăng để cứu cái khổ treo ngược (đảo huyền) của người đã mất. Xưa kia, nói cái chậu đựng thức ăn, đó là nói sai”. Vu-lan-bồn kinh sớ thuộc Mật Tông nói: “Vu-lan là từ ngữ của Tây Vực, nghĩa là đảo huyền, Bồn là âm của Đông Hạ vẫn là đồ dùng cứu chữa. Nếu theo cách nói địa phương thì phải nói là Cứu đảo huyền bồn”. Hội Vu-lan-bồn đã có nguồn gốc từ lâu đời, có từ năm Đại Đồng đời Lương Vũ Đế ở Trung Quốc đã bắt đầu dựng tiệc chay Vu-lan-bồn. Sở dĩ, Vu-lan-bồn hội lưu truyền đến nay, khởi từ Ngài Ma-ha Mục-kiền-liên(Mahà-maudgalyàyana),một trong mười vị đệ tử của đức Phật.

Ngài Mục Liên đứng đầu về sức thần thông trong Thập đại đệ tử của Phật. Lúc đầu, Đại Mục-kiền-liên cùng với Ngài Xá-lợi-phất đều là Lục sư ngoại đạo, tinh thông giáo học, tuy quản lãnh một trăm đệ tử, nhưng trong lòng vẫn có những vương vấn bất an. Ngài bèn giao ước với Xá-lợi-phất, nếu ai giải thoát trước thì chỉ bày cho nhau biết. Vì thế, cả hai Ngài đều tinh tiến tu hành. Hôm nọ, Xá-lợi-phất đến thành Vương-xá, gặp vị Mã Thắng dung mạo đoan chánh, trong hàng ngũ năm Tỳ-kheo, bèn hỏi lý do, thì mới biết là Phật xuất thế, rồi từ pháp môn nhất kệ mà tự nhiên giác ngộ được giải thoát. Sau đó, Ngài tới Trúc Viên tịnh xá, nghe đích thân Phật giảng pháp, và được ngộ pháp nhãn tịnh. Ngài liền nói cho Mục Liên biết và hai người đều trở thành đệ tử của Phật. (Phỏng theo nguồn Từ Điển Phật Học Hán Việt-NXB Khoa Học Xã Hội).

Do tinh tấn tu tập mà về sau Ngài Mục Liên đạt thần thông bậc nhất. Sau nghe đức Phật giảng bày tường tận về công ơn sanh thành dưỡng dục của cha mẹ chịu khổ đau như thế nào, hy sinh tất cả vì con cái ra sao, sau khi chết còn bộ xương khô xạm trong đống đổ nát hoang tàn, qua bao năm tháng sương gió dập vùi như thế nào... Qua những hình ảnh đó, các đệ tử mới thấm thiết nỗi bi ai tiếc nuối trong những tháng ngày cha mẹ cưu mang. Nhưng khi tỉnh ngộ, nhận ra được công ân sâu dày đó của cha mẹ, khi muốn báo đền thì đã quá muộn màng.

“Tử dục dưỡng nhi thân bất tại,

Thụ dục an nhi phong bất chỉ.”

(Cây muốn lặng nhưng gió chẳng dừng,

Con muốn phụng dưỡng cha mẹ nhưng nào đâu thấy.)

Sau khi nghe đức Phật giảng bày về Hiếu nghĩa, Mục Liên liền vận dụng sức thần thông có được, tức tốc vào nơi Địa-ngục tìm vong linh của mẹ. Nhưng lúc sanh tiền, người mẹ hủy hoại chánh tín, phỉ báng Tam-bảo, lòng dạ bỏn xẻn, ích kỷ, nên đến lúc lâm chung đọa vào Vô gián địa ngục. Dù Thần thông quảng đại muốn cứu mẹ thoát khỏi tội nơi Địa Ngục, cũng không tài nào giải thoát được. Chính vì thế, Mục Liên bày tỏ và cầu mong đức Phật chỉ rõ về phương pháp giải thoát cho vong linh. Bằng cách, vào ngày Tự tứ, thiết lễ trai diên, cung thỉnh chư Tăng khắp nơi đến thọ thực, đồng thời, nương nhờ vào sức chú nguyện của thập phương Tăng, lấy thần lực quảng đại của mười phương Tăng đó mới giải thoát được trọng tội của mẹ Mục-kiền-liên. Từ đó, lễ Vu Lan ra đời, hay rằm tháng bảy còn gọi là ngày “Xá tội vong nhân” (Ân xá tội khổ cho vong hồn người đã mất), và rằm Vu Lan đã được mọi người trên khắp thế giới biết đến, đặc biệt gắn bó thấm sâu vào nền văn hóa Á Đông chúng ta. (Xin xem thêm Đoạn Thánh Nữ hỏi Vô Độc Quỷ Vương về Địa Ngục trích trong kinh Địa Tạng, để hình dung được chốn tội đồ.)       

“Thánh nữ hựu vấn: “Thử thủy hà duyên, nhi nãi dũng phí, đa chư tội nhân, cập dĩ ác thú.” Vô độc đáp viết: “Thử thị diêm phù đề tạo ác chúng sanh, tân tử chi giả, kinh tứ thập cửu nhật hậu, vô nhân kế tự, vi tác công đức, cứu bạt khổ nạn, sanh thời hựu vô thiện nhân. Đương cứ bổn nghiệp sở cảm địa ngục, tự nhiên tiên độ thử hải, hải đông thập vạn do tuần. Hựu hữu nhất hải, kỳ sở bội thử. Bỉ hải chi đông, hựu hữu nhất hải, kỳ khổ phục bội. Tam nghiệp ác nhân chi sở chiêu cảm. Cộng hiệu nghiệp hải, kỳ xứ thị dã.

Đoạn này nói về Quỷ vương đáp việc chúng sanh gây nghiệp tạo địa ngục.

Thánh nữ đã biết bản thân mình trải qua cảnh địa ngục ấy, sao không hỏi rõ về nhân địa ngục, tương lai sẽ mau chóng đến phá địa ngục. Liền hỏi: “Dòng nước nhìn thấy ở phía trước, do duyên gì mà nước cứ phun vọt sôi sùng sục, lại có nhiều tội nhân, cùng với ác thú?”

Vô Độc trả lời: “Đấy là do chúng sanh cõi Diêm Phù Đề tạo ác, đem biển tánh biến làm biển nghiệp. Nước ấy sùng sục như nước sôi, chúng sanh ở trong đó nhận lãnh các khổ não. Nhưng chốn địa phủ có sự khoan hồng giống như ở nhân gian. người mới chết đến có kỳ hạn 49 ngày, nếu người ở cõi nhân gian thay thế người chết tạo công đức, thì có thể chuộc được tội, miễn khổ, hoặc bản thân người chết đã từng gieo trồng nhân lành, cũng có thể đem công áp tội, bằng không tùy nơi bổn nghiệp đã chiêu cảm địa ngục. Trước tiên, hồn người chết vượt qua biển nghiệp này, bên trong biển bị các ác thú hút máu ăn thịt. Cách 10 vạn do tuần [40 dặm (1 dặm gần =1,6km) = 01 do tuần, tương đương 6.400.000 km]về phía Đông của biển này còn có một biển. Biển trước là Thân nghiệp tạo tội, biển này là chỗ Khẩu nghiệp của chúng sanh tạo tội. Khổ ở biển Khẩu nghiệp này gấp bội biển thân nghiệp ở trước. Vì nghiệp miệng dễ dàng tạo tội, số lượng lại nhiều. Phía Đông của biển ấy, kế tiếp còn có một biển, nỗi khổ trong biển này lại vượt hơn gấp bội. Là chỗ nghiệp Ý của chúng sanh tạo tội. Niệm niệm từ nơi Ý thức tạo nghiệp. Bổn Kinh dạy: “Cử tâm động niệm, thảy đều là nghiệp, thảy đều là tội. Cho nên, khổ não ở đấy càng nặng, hợp lại mà nói, ba nghiệp Thân, Khẩu, Ý tạo tội, thì tự chiêu tự cảm, mà thành ba biển, gọi chung là Biển nghiệp, Biển ấy là như thế.” Trước kia Thánh nữ chỉ nghe, nay thì tự mình đến được.

Thánh nữ hựu vấn Quỷ vương Vô Độc viết: “Địa ngục hà tại.” Vô Độc đáp viết: “Tam hải chi nội, thị đại địa ngục, kỳ số bách thiên, các các sai biệt. Sở vị đại giả, cụ hữu thập bát. thứ hữu ngũ bách, khổ độc vô lượng. thứ hữu thiên bách, diệt vô lượng khổ.

Thánh nữ hỏi Vô Độc: “Tôi chỉ thấy ba biển, không rõ địa ngục lại ở chỗ nào?” Vô Độc đáp: “Bên trong ba biển, là địa ngục lớn, gồm trăm ngàn địa ngục, mỗi địa ngục đều khác biệt nhau, nhiều loại chúng sanh thọ khổ ở từng ngục khác nhau. Địa ngục lớn đã nói gồm 18 Địa ngục, do tội ác thượng đẳng chiêu cảm tạo ra. Kế đến có 500 địa ngục, do tội ác trung đẳng chiêu cảm tạo ra. Kế đến có 100.000 (Một trăm nghìn) Địa ngục, do nghiệp tội hạ đẳng chiêu cảm tạo ra. Tùy chúng sanh tạo tội nặng nhẹ mà thọ lãnh khổ não ở từng Địa ngục khác nhau.” (Trích Phẩm 1, cuốn Địa Tạng Bồ-tát Bổn Nguyện Kinh Giảng Ký, của Ngài Thánh Nhất Lão Pháp Sư tường thuật, Ngài Thích Tịnh Không kính cẩn ghi chép. Việt dịch: Hoàng Minh.)

Như vậy, Mùa Vu Lan hàng năm là bản điệp khúc du dương khắc sâu vào lòng dân tộc. Nhắc nhở mọi chúng ta đừng quên đạo Hiếu đối với song thân. Thường ngày chúng ta xem báo chí thấy không ít vụ con cái ngược đãi cha mẹ, anh em bất hòa sanh mâu thuẩn, dẫn đến đâm chém rồi phải dấn thân vào tù tội. Nhiều cha-mẹ cứ mãi lo làm ăn kiếm tiền nuôi con ăn học, nhưng cũng kém phần chăm sóc giảng giải về mặt hiếu nghĩa, vì thế, con cái không hiểu biết được công ân sâu dày, nhằm đánh vào tiềm thức khiến con cái nỗ lực tu chỉnh thân tâm, gầy dựng sự nghiệp. Thân tâm đứa trẻ được tu chỉnh thì lo gì nền móng đạo đức băng hoại. Cho nên, việc phổ biến hiếu đạo là trách nhiệm của cả cộng đồng. Bởi thế, đức Như Lai thuyết pháp cho mẹ nhằm tuyên dương đạo hiếu.

Kinh Phạm Võng dạy: “Hiếu thuận cha mẹ, phụng sự Tam bảo Tăng chúng, thì hiếu thuận là pháp đạt đến đạo, Hiếu gọi là giới, cũng gọi là hiếu thuận là pháp đạt đến đạo, Hiếu gọi là giới cũng gọi là chế chỉ”. Nhà Nho cũng nói: “Bách thiện hiếu vi tiên”. (Trăm việc lành, hiếu đứng đầu). Cổ đức dạy: “Tại gia không có người con chí hiếu thì xuất gia không có cao Tăng”. Vì thế, Hiếu đạo là nhân tố không thể thiếu trong việc thúc đẩy xã hội phát triển, và cũng là nền móng lớn đem lại hòa bình cho nhân loại. Những ai không nghĩ nhớ đến cha mẹ sanh thành dưỡng dục thì cuộc đời cũng giống như chiếc bèo dập dềnh trên sóng nước, hay như cây to mà gốc rễ yếu, khi gặp gió ắt phải gãy ngã. Bởi vì, người con không thương cha mẹ thì không lo học hành, chỉ chơi bời lêu lỏng, lãng phí thời gian nơi quán rượu cuộc cờ, theo luật nhân quả thì rõ ràng, gieo nhân nào phải chuốc quả đó. “Ấu bất học, lão hà vi?” (Nhỏ không chịu học, lớn sẽ làm gì? Dẫn đến tình trạng thất học về sau. Gia đình có một người không lễ nghĩa thì đất nước có thêm một mối họa, cả nước có nhiều người không lễ nghĩa thì thế giới có thêm nhiều tệ nạn. Và, cuối cùng hậu quả lãnh chịu vẫn là con người. Mà điều đáng tiếc nhất, là những bậc cha mẹ, có nhiều người làm lụng nuôi con, mong muốn con thành tài làm rạng danh tông miếu, nhưng lại kém phần giáo dưỡng về mặt hiếu đạo, gây lãng phí quá nhiều thời gian để cho con cái hướng đến những nẻo đường thiếu nền móng giáo dục vững chắc. Tuổi thơ không có được nền móng giáo dục tốt, đồng nghĩa với quốc gia thiếu vắng chất xám về sau. Như thế, việc thúc đẩy kinh tế, phát triển xã hội sẽ kém theo. Vì vậy, hiếu đạo là nguồn cội vững bền cần được phổ biến trên mọi phương diện xã hội, để ai nấy cũng biết về nghĩa tình sâu nặng của cha-mẹ, nhằm đánh thức tấc lòng muốn báo đáp công ơn sanh thành dưỡng dục của người con.

Nam mô Bất Động Trí Quang Phật

Trang Ảnh

Pháp Âm

Thống kê

Hiện có 3 khách đang trực tuyến

50

2647

91914

 

Âm lịch

Copyright @ 2009-2010 Chùa Kỳ Viên Trung Nghĩa
132 Sinh Trung, Nha Trang, Khánh Hòa, Việt Nam
Điện thoại: +84.58.3827197; 3500252
Cố Vấn: Hòa Thượng Thích Trí Viên | Biên Tập: ĐĐ. Thích Huệ Pháp
Thư điện tử xin gởi về: huephap@gmail.com
Ghi rõ địa chỉ nguồn "kyvientrungnghia.com" khi đăng lại từ trang web này