Đạo Phật nói về hôn nhân

Tác giả: Thượng Tọa Thích Trí Viên

 

Trước đây việc làm lễ chúc phúc thành hôn tại bất kỳ một ngôi chùa nào đó, là việc khó có thể chấp nhận được và ngay bây giờ cũng vậy. Có một số ít vị không tán thành vấn đề nầy, bởi vì 4 - 5 thập kỷ trước đây, việc làm lễ chúc phúc cho hôn nhân khó xảy ra. Chính vì vậy mà chúng ta nên cảm thông cho quan niệm ấy.

Hơn nữa, sinh hoạt thiền môn lúc ấy chưa có điều kiện rộng mở thì nhận định, tầm nhìn (vẫn im lìm) của Tăng Ni vẫn giới hạn nơi cửa Tam Quan hay trong Già Lam.

Sau khi Phật Giáo Việt Nam (PGVN) học được sự cải cách Phật Giáo (PG) Trung Hoa do Ngài Thái Hư Đại Sư chủ xướng, nên một số ít tu sĩ PGVN mới có cơ hội “vượt rào” Tây học.

Từ thập kỷ 40-50, khi nhìn thấy một vị tu sĩ PGVN ngồi trước máy đánh chữ đánh máy là một hiện tượng lạ (lời Giáo Sư Cao Hữu Đính).

Thế nhưng nhờ mở lối vượt rào, một ít vị tu sĩ trẻ PGVN ra nước ngoài du học, mới có học vị, bằng cấp cao, và rồi trở về Việt Nam mở trường Đại học Vạn Hạnh. Cũng từ ấy PGVN mới có mặt trên diễn đàn Phật giáo Thế giới và nối tiếp đến hôm nay.

Chính vì một số quan niệm nội tại “gia giáo” nên việc đưa hôn nhân đến chùa làm lễ chúc phúc kết hôn là một việc rất khó thực hiện được.

PGVN hiện đang trong thời mở cửa nhưng vẫn còn nhiều hạn chế bởi một số Trung, Lão đương vị mặc cả sự đóng góp thiện ý của Tăng Ni và Phật tử. Mong rằng lời giáo thị của Tôn giả Ma Ha Ca Chiên Diên sẽ là vị cam lồ rưới vào mảnh đất PGVN “Này các thiện chí, nếu có người nào già cả đến 80, 90 tuổi tóc bạc răng rụng mà chỉ thành tựu được pháp thiếu niên, thì người này chẳng phải là bậc tôn túc. Ngược lại, tuy là người tuổi trẻ khoảng 25 tuổi, da trắng tóc đen, khỏe mạnh, hoàn toàn đẹp mà thành tựu được pháp của bậc cao niên, thì kể vào hàng tôn túc”.

Đoạn kinh nầy, tôn giả Ma Ha Ca Chiên Diên giải thích khái niệm Tôn túc không căn cứ vào trọng tâm tuổi tác lớn nhỏ mà căn cứ vào bản chất tu trì và thực hành pháp có hiệu quả.

Ngụ ý đoạn văn trên cũng để suy gẫm về hiệu quả Phật sự hiện tại và định hướng tương lai của PGVN.

Các hoạt động công tác Phật giáo là cống hiến và phụng sự bằng lòng Từ bi và Trí Tuệ. Với thời đại khoa học như hiện nay, người làm Phật sự không trông chờ sự mầu nhiệm nhiều như chư Tổ thâm sơn cùng cốc trước đây mấy trăm năm.

Trước đây “Văn chung thinh, Phiền não khinh, Trí huệ trưởng…”. Bây giờ và hiện nay phép mầu này khó xảy ra, nếu có chỉ là giọt nước trong biển cả! Vì thế, để có được sự thông thái và trí tuệ sinh trưởng đòi hỏi phải bằng khả năng tu học trực tiếp mở tầm nhìn làm việc của hành giả là chính. Nếu trực tiếp vào đời phụng sự tâm nguyện độ tha mà cửa vẫn khép kín, ý tưởng không thay đổi, chẳng khác nào người đời nói “Bình mới Rượu cũ” nếu cứ như thế làm sao bước theo con đường hội nhập, phát triển (xin xem bài: Hoằng pháp trong giai đoạn hội nhập - Tâm Thị số 10).

Ở đây không bàn nhiều về mở cửa nhà Thiền mà vấn đề là trao đổi tinh thần Phật Giáo nói với Hôn nhân có ngược với phương hướng hóa độ của Phật giáo hay không? Có thể nói Mới nhưng không Lạ với lập trường “Phụng sự chúng sanh là cúng dường Chư Phật”. Mỗi buổi lễ chúc phúc cho đôi lứa vẫn là ý niệm phụng sự chúng sanh. Bởi, nơi buổi lễ nầy tạo cho hai họ và đôi lứa một niềm tin trong sáng về Tam bảo, trong ấy có sự hiện diện Tăng Ni trực tiếp chủ trì chúc phúc là phước duyên lớn cho hai họ và đôi trẻ. Người con Phật tại gia nào lại không quý trọng, khi một sự kiện quan trọng trong đời sống được thực hiện tại chùa và được, Tăng Ni gia tâm cầu nguyện; được chỉ dạy về đạo đức, lễ nghĩa, hiếu kính, không những cho đôi trẻ, mà cho cả hai họ thân hữu của họ đang có mặt chúc mừng. Và họ (hai họ) rất vinh hạnh về buổi lễ nầy.

Nơi đây, tôi nhớ lại buổi lễ chúc phúc thành hôn tại chánh điện chùa Hải Đức Nha Trang, dưới sự chứng minh của Hòa thượng Viện trưởng Thích Thiện Siêu.

Sau nghi thức cầu nguyện là lời dạy của Hòa thượng. Ngài dạy khuyên hai họ đối xử thế nào khi đã thành sui gia; dạy hai cháu lứa đôi (tôi nhớ là Nghĩa và Huyền) sống thế nào khi là vợ chồng. Tại chánh điện chùa Long Sơn Nha Trang cũng vậy, buổi lễ chúc phúc được Hòa thượng Thích Chí Tín chứng minh, Hòa thượng Thích Thiện Bình khuyên dạy. Tinh thần nhập thế của Phật giáo đang có mặt với mọi phương tiện, phụng sự chúng sanh không loại trừ những việc ấy.

Cho nên, tinh thần Đại Từ Bi của Phật giáo là bình cam lồ rưới khắp, xóa bớt não phiền cho đời.

Phật giáo không vào đời thì không phải là Phật giáo. Những sứ giả Phật giáo thường tôi luyện qua công phu tu tập sẽ có nội lực như hạnh nguyện Bồ Tát. Nếu sứ giả Phật giáo không vào đời, giúp cho đời an bình thì thế giới loài người sẽ mãi mê theo năm món ưa thích, làm sao ai cứu?!

Tất cả các tôn giáo hiện nay, là biểu tượng an bình cho nhân thế, Phật giáo cũng vậy, nếu Phật giáo không tiếp sức điều ấy, Tăng Ni không quan tâm độ tha, thì Phật giáo như một khối băng lạnh buốt, Tăng Ni như một cành hoa trên núi, không ích gì cho nhân loại. Cho nên, Phật giáo đi vào đời cứu đời vẫn là ý tưởng ban đầu mà Thái tử Tất Đạt Đa đã rời cung vào núi tu hành tìm lối giải thoát và mang lại sự an lành cho nhân thế.

Trở lại việc hôn nhân, thành hôn là lễ giao ước thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm của đôi trẻ vừa kết hôn. Trước khi nói nghĩa vụ và trách nhiệm đôi lứa, chúng ta nói cho hai trẻ nghe về công ơn trời biển của cha mẹ, để ngày hôm nay hai cháu đủ duyên lành làm bạn trăm năm.

Muốn đảm bảo hạnh phúc trăm năm cho hai trẻ, hai họ là điểm tựa lớn cho hai cháu. Điểm tựa lớn ấy là: hòa thuận, tương kính nhau. Hòa thuận, tương kính là phép lịch sự, là chất liệu cần thiết trong cuộc sống con người, đặc biệt là kết bạn sui gia. Sui gia là mối tương quan gắn kết bởi hai trẻ. Cho nên, giữ tình hòa khí, quý mến nhau là sự ràng buộc cho hai trẻ hạnh phúc. Con người là nhân tố quyết định hạnh phúc hay không hạnh phúc. Sự quyết định này không lệ thuộc ngoại cảnh. Nói như nhà Phật: Chánh báo thiếu chất liệu tình thương, hòa kính thì y báo khó thành tựu.

Nghĩa tình sui gia gắn kết sẽ cho đôi trẻ nghĩ nhiều về công ơn dưỡng dục của cha mẹ hai bên. Công ơn ấy có viết thành văn, thành thơ bao nhiêu cũng không sao nói hết. Một nhà văn đã nói: “Lên rừng chặt hết cây làm bút, xuống biển múc hết nước làm mực để viết về công cha nghĩa mẹ cũng không bao giờ nói hết được”.

Ca dao có câu:

“Công cha nặng lắm ai ơi,

Nghĩa mẹ bằng trời, chín tháng cưu mang.”

Không có công cha: “Quyết cùng hoàn vũ, phấn đấu nuôi con” thì hai trẻ không được như hôm nay.

Không có nghĩa mẹ: “Gió mùa thu mẹ ru con ngủ, Năm canh chày thức đủ năm canh”, “Miệng nhai cơm búng, lưỡi lừa cá xương”, “Nuôi con chẳng quản chi thân, Chỗ ướt mẹ nằm chỗ ráo con lăn”.

 Vì thế, nghĩa vụ thiêng liêng của người làm con giờ đây là Tri ân và Báo ân hai đấng sanh thành. Nếu người nào thiếu một trong hai, như chim thiếu cánh không bay xa với cuộc đời, bị người đời xem thường, dù anh là gì, vẫn không đủ khả năng thuyết phục về Hiếu Đễ. Bất hiếu sẽ là người bất nhân! Hỏi ai trong đời có gần người bất nhân!?

Đức Khổng Tử nói: “Bất hiếu là tội lớn nhất trong năm tội: khắc chữ lên trán, cắt thân, xẻo mũi, chém đầu, làm mất khả năng sinh con”.

Hiếu đã cảm đến trời thì nhân thế sao không kính nể! Hiếu cảm hóa muôn vật tốt tươi nơi mặt đất, người sao không mến chuộng?!

Hôm nay đôi lứa đủ cánh đủ lông bay xa với đời mà thiếu nghĩa tình với song đường thì bị gọi là mẫu người ác nhân. Những con người ấy sẽ chịu mọi hậu quả sau khi con họ lớn khôn. (Xem câu chuyện gáo dừa).

Công ơn cha mẹ trời biển là vậy, thì hai trẻ vừa thành hôn nên sống thế nào?

Trong bài kinh lễ bái sáu phương, đức Phật dạy có đoạn nói về ý nghĩa vợ chồng, bài kinh nầy, đức Phật khuyên chúng ta nên quan tâm sáu phương mật thiết mới có cuộc sống hạnh phúc.

Phương Đông: Hiếu kính cha mẹ.

Phương Nam: Phụng sự Sư Trưởng (Thầy, Cô giáo).

Phương Tây: Đối với vợ chồng.

Phương Bắc: Cách sống.

Phương Dưới: Đối với người cùng làm việc với mình.

Phương Trên: có đức tin vững trong sáng hướng đến Tam bảo.

Sống mật thiết sáu phương sẽ là nơi hội tụ cho hạnh phúc làm người. Ở đây sẽ mật thiết với Phương Tây (đối với vợ chồng).

Vợ chồng là nghĩa tào khang, nghĩa là cùng thệ nguyện sống chung, chia sẻ mọi khổ vui trong cuộc đời thì phải có trách nhiệm và nghĩa vụ với nhau.

Chồng phải thương yêu vợ, phải tin tưởng giao tiền bạc, mua sắm nữ trang vào dịp sinh nhật… không lang chạ nơi khác.

Vợ phải trung kiên một chồng, không đem lửa mồi qua hàng xóm, không hổn láo cha mẹ hai bên và chồng mình.

Có chuyện kể rằng:

Có hai vợ chồng nọ, anh chồng quá thương vợ. Chị vợ biết vậy hay lên mặt, mỗi khi anh chồng có sơ xuất việc gì, chị vợ nguyền rủa nặng lời. Anh chồng vì thương vợ, muốn có hòa khí trong gia đình nên nhịn không nói. Chị vợ được nước la mãi. Anh chồng nghĩ kế: Ra chợ mua một quan tài đem về để chình ình trước bàn thờ ông bà. Chị vợ thấy vậy hỏi:

Anh khiến ai theo ông bà sớm hay sao mà để cái nầy?

- Dành cho anh.

- Tại sao anh muốn?

- Vì bị vợ ăn hiếp.

Từ ấy, người vợ suy nghĩ mà hối hận, xin lỗi chồng từ này về sau sẽ không có như thế nữa.

Anh chồng càng quý mến vợ và nói:

- Từ nay, em nói khó nghe thì anh và em sẽ đến nơi nghe dùm cái khó.

- Ở đâu?

- Trên chùa, có Đức Phật, có Thầy nghe dùm!

Hòa khí nên có, để giữ hạnh phúc lứa đôi và con cái, ở sự khéo léo, giáo dục như anh chồng là đáng khâm phục. Vì thế, khi lứa đôi sống phải tôn trọng và tin tưởng thì có hạnh phúc, là bạn đời trăm năm.

Hơn nữa, ở đời có rất nhiều loại bạn, nhưng Đạo Phật nêu ra ba hạng bạn cần nên suy nghĩ:

1/ Bạn như Hoa: Bạn se sua, ưa danh vọng.

2/ Bạn như Cân: ưa tính toán, so sánh.

3/ Bạn như Đất: chịu đựng.

Ở đây, chúng ta không đề cập hai hạng bạn ở mục1&2 mà nên nói về người bạn như Đất.

Đất chịu đựng tất cả, tốt xấu dơ nhớp, con người ném vào đất chịu hết, không lời than thở. Nhưng Đất đã nâng từng bước chân ta vào đời. Đất đã cho ta cỏ cây, hoa, rau quả, vàng bạc để làm cuộc sống con người giàu đẹp. Rừng vàng biển bạc cũng từ Đất mà có. Hạng bạn được ví như Đất, chúng ta nên gần và sống chết trăm năm. Do đó, hôn nhân lứa đôi nên sống trong ý nghĩa ấy.

Như vậy, việc chúc phúc cho hôn nhân nơi cửa Thiền có mặt nào trái với tinh thần: “Phụng sự chúng sanh là cúng dường chư Phật”?

Phụng sự chúng sanh là tiêu chí của người đệ tử Như Lai. Xin mượn lời kết qua lời dạy của Tổ Quy Sơn: “Người làm được thế, thì thật không uổng phí việc đắp mặc Pháp Y Ca Sa, và cũng là đáp đền được cả bốn ân sâu nặng cùng cứu giúp cho chúng sanh trong ba cõi”. (Như hạnh tử chỉ, Thật bất uổng pháp phục) (Cảnh sách - theo bản dịch của Tỳ kheo Thích Phước Nghĩa, chùa Huệ Nghiêm).

Cầu mười phương chư Phật chứng minh, gia bị mọi người con Phật luôn luôn khỏe mạnh, trí sáng huệ khai, đi vào cuộc đời, như một chiến sĩ vô danh.


Nam mô Đại Hiếu Mục Kiền Liên Tôn Giả hộ niệm


Mùa Vu Lan PL.2554.

Trang Ảnh

Pháp Âm

Thống kê

Hiện có 5 khách đang trực tuyến

49

2646

91913

 

Âm lịch

Copyright @ 2009-2010 Chùa Kỳ Viên Trung Nghĩa
132 Sinh Trung, Nha Trang, Khánh Hòa, Việt Nam
Điện thoại: +84.58.3827197; 3500252
Cố Vấn: Hòa Thượng Thích Trí Viên | Biên Tập: ĐĐ. Thích Huệ Pháp
Thư điện tử xin gởi về: huephap@gmail.com
Ghi rõ địa chỉ nguồn "kyvientrungnghia.com" khi đăng lại từ trang web này