Bốn di sản của đức Phật

Tác giả: Hoàng Minh - Hữu Phước

 

Tại sao không mở rộng tình yêu thương vô bờ bến? Tại sao không xót đau khi đồng loại bị lún chìm? Tại sao không vui vẻ chấp nhận thất bại? Tại sao phải bỏ đi? Tất cả đều có thể? Tại sao trong phần đông chúng ta luôn bảo là không thể, rồi tự chôn mình vào luồng tư tưởng tiêu cực, bi quan. Tất cả mọi sự lý giải cho một cuộc sống tiến triển theo quy luật vũ trụ đều phải trải qua “NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG”. Mục tiêu nào khiến cho hoàng đế tương lai của Ấn Độ, cách đây hơn 2550 năm phải rũ bỏ hoàng cung, trở thành một nhân chứng lịch sử, làm nền tảng gầy dựng sự nghiệp cho loài người. Đó chính là lòng từ bi không biên giới đã khiến Thái tử gầy dựng sự nghiệp độ sanh, và để lại gia tài trí tuệ bình đẳng cho nhân loại.

 Đối với chúng ta mà nói, vứt bỏ cảnh giàu sang, nhiều tiền của hiện có, để dấn thân học những lối co giò đứng một chân, phơi mình giữa nắng gắt, chịu đựng sương khuya giá rét, nằm trên gai nhọn, nhảy qua vòng lửa… hay cao hơn một bậc, là thiền định để đạt đến thế giới lạc thú như tiên cảnh, là sự việc xưa - nay đều không thể xảy ra đối với bất kỳ những ai không thích tư tưởng tiến bộ, mong tìm thấy con đường giải thoát. Muốn có con đường giải thoát thì phải bắt đầu từ chỗ không còn lối thoát. Cảnh không còn lối thoát hay còn gọi là “Bước đường cùng”, đứng trước thực trạng đó, nếu chúng ta cam tâm tình nguyện để cho số phận bị chôn vùi theo thời cuộc, để bản thân mình thụ động chờ mọi cơ hội, vận may đem tới cho mình là điều không thể, vô cùng bất lợi cho sự nghiệp. Con đường chờ đợi đó chỉ dành cho những người, mà lịch đại tôn sư thường bảo là “Kẻ thất phu”. Có ai không muốn có được tầm nhìn xa trông rộng, có ai không muốn danh vang bốn biển? Có ai không thích được mọi người tôn quý. Vậy, tại sao chúng ta không dành mỗi ngày một ít thời gian để học cách “Tĩnh mặc trên sông Hằng” của bậc “Tam giới chi đạo sư”, tức Thái tử Tất-đạt-đa, sau thành chánh giác hiệu Thích-ca Mâu-ni. Tiếng Hán là “Năng nhân - Tịch mặc”.

Đối với mục tiêu cuộc sống thường ngày, thì con đường giải thoát là lối đi vượt ra khỏi những khó khăn, nghèo đói, dành chung cho nhân loại để vươn tới những mục tiêu tốt đẹp hơn, cuộc sống giàu có nhiều tài sản hơn, gia đình, thân hữu ngày càng khăng khít hơn, và toàn thể đại chúng có cách nhìn bình đẳng hơn. Đó chính là động cơ thúc đẩy cuộc sống chúng ta ngày càng tiến đến văn minh và chấm dứt chiến tranh đạn bom vô nghĩa.

Muôn việc ở đời, không có gì là tự nhiên sanh ra. Sự thành tựu của một nhân vật là một tổng thể liên kết giữa các yếu tố có lợi và bất lợi, nội tâm và ngoại cảnh, ý niệm tiên tiến và lạc hậu, sự phấn đấu đi lên và chùn bước bỏ cuộc…, Tất cả những thứ đó, ai có thể tĩnh tâm suy xét lợi hại và tìm ra giải pháp hay để tiến bước thì người đó thấy được niềm vui. Ngược lại, sẽ chuốc lấy ưu phiền, mệt nhọc, rồi suốt đời sống trong đống đổ nát của phiền não.

Phiền não là kẻ thù lớn nhất đối với công cuộc cải thiện nhân tâm, thành tựu sự nghiệp. Như chúng ta thường thấy, muôn vật trong tự nhiên đều có hai mặt đối nghịch nhau nhưng không bao giờ tách rời. Nếu tách rời sẽ không tồn tại và mất ý nghĩa. Trong cuộc sống chúng ta, có lẽ ít ai chối bỏ quan niệm, từ nhỏ cố gắng học cho thật giỏi để sau này có cơ hội tốt, làm việc kiếm nhiều tiền. Có nhiều tiền thì mua được nhà lầu, xe hơi, vợ đẹp, con xinh, rồi tìm kiếm lạc thú khác ăn chơi cho qua ngày tháng. Con người nỗ lực bằng mọi cách đạt được danh vọng rồi thì sẽ ra sao, tiền nhiều quá, quyền thế nhiều quá không biết để vào đâu cho hết. Nếu người có tư tưởng tốt thì còn đem của cải bố thí cho người nghèo, hoặc xây dựng trường học, bệnh xá, cứu giúp đồng bào phương xa lâm nạn. Còn người không có tư tưởng tốt thì ăn chơi trác táng, vào sàn nhảy vũ trường để giải khuây, có khi va chạm xung đột, dẫn đến con đường tù tội, táng gia bại sản, thành kẻ “Phá gia chi tử”! Như thế, ngày tiếp ngày, xuân này đi xuân kia lại đến, cứ thế cứ thế, đời người cứ sống, cứ dốc toàn lực vùi đầu làm việc, rồi tạo ra tài sản, rồi hưởng thụ, rồi chết, rồi sau khi chết có biết được trên tấm bia mộ con cháu chúng ta khắc những gì, ngày, giờ, tháng, năm, quê quán, chết lúc ngày mấy, tháng mấy, năm mấy. Thế là xong! Kết thúc một kiếp người, một kiếp người vô nghĩa. Một lối sống tầm thường! Không có lợi ích cho xã hội nhân sinh. Đó không phải là “Con đường lý tưởng” mà các hiền sỹ nối gót.

Bởi thế, mới có câu:

“Nhân sinh tự cổ thùy vô tử

Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh”.

(Đời người xưa nay ai chẳng chết

Cốt giữ cho lòng rạng sử xanh)

Tư tưởng của các bậc hiền triết chính là vườn hoa muôn sắc màu đầy “Kỳ hương dị thảo”. Những lý luận ấy được đúc kết bằng tâm huyết “Mòn gót lỏng trán” vì mục đích đóng góp lợi ích cho đời người. Chẳng hạn như, Chu Văn Vương bị giam cầm trong ngục Dữu Lý suốt 10 năm, tưởng chừng như cuộc đời bỏ không. Nhưng suốt năm tháng buồn bã đó, ông đã quan sát thiên tượng, lập ra kinh dịch, diễn giải sự hình thành vũ trụ theo học thuyết Âm-dương lưu hành đến nay. Còn Tôn Vũ dành hơn 30 năm kinh nghiệm quan sát chiến tranh, phân tích đúc kết thành 13 chương Binh pháp, làm nền tảng lý luận cho chiến lược quân sự, Khổng Tử đem đạo truyền bá khắp thiên hạ, cuối cùng cũng có kẻ tiểu nhân vây hãm, nhưng trong lúc khốn cùng những vị ấy đều dám chịu đựng mà giữ gìn đạo. Các vị thánh nhân đều đem cái đạo truyền đạt để làm lợi ích cho mọi người. Đó chính là cái tâm của “Bậc trượng phu”. Nhưng không thể sánh với sự nghiệp độ sanh của đức Phật. Vì sao? Bởi các tác phẩm kinh điển của thánh nhân chỉ hữu dụng kéo dài trong một thời gian và không gian nhất định, phù hợp với người này nhưng không hợp với người khác, thích ứng với quốc gia này nhưng không hợp với quốc gia khác. Đến một lúc nào đó, bị phai lãng trong tâm khảm con người, mà chỉ mang tính nghiên cứu trong học thuật. Còn giáo lý nhà Phật cao thâm quảng đại, không giáo hóa ai nhưng ai cũng nhận được sự giáo hóa, nếu tâm thích hướng đến. Không nói lời nào nhưng vô lượng lời không giải thích được Pháp của Ngài. Đại pháp nan tư! Điều này được thể hiện qua lời kinh Phật: “Ưng như thị trụ, như thị giáng phục kỳ tâm”. (Nên sống như thế, nên giáng phục tâm mình như thế); hoặc “Ưng vô sở trụ, nhi sinh kỳ tâm”(Nên không trụ vào bất kỳ chỗ nào, mà sinh ra tâm). Mọi lúc, mọi nơi ý niệm ấy nếu hiện hữu trong tâm khảm, và chúng ta luôn gắng gỏi thực hành theo, có lẽ sẽ cảm thấy cuộc sống đầy đạo vị. Vì sao?

Vì không ai muốn hoàn cảnh trái nghịch đến với mình, không ai muốn tai họa gieo rắc cho chính mình, không ai muốn đời của mình bị chìm đắm mãi trong cảnh nghèo khó, đau thương. Tất cả những thứ đó đều trái với khát vọng giàu có sung túc và hạnh phúc cho mỗi người. Và vì thế, khiến chúng ta luôn luôn bị phiền não. Càng phiền não, cuộc sống càng trở nên bệnh hoạn và bế tắc. Vậy, thì khi những hoàn cảnh đó xảy đến sẽ như thế nào. Thay vì đau khổ, sao chúng ta không ráng chịu đựng và tìm ra giải pháp cải thiện tốt hơn. Thay vì, bế tắc không có lối thoát tại sao chúng ta không ráng nhẫn nhục tìm ra lối thoát trong chỗ bế tắc.

“Ưng như thị trụ, như thị giáng phục kỳ tâm” chính là nhắc nhở chúng ta luôn luôn phải nhẫn nại, phấn đấu điều chỉnh tâm mình và có cách nhìn sáng suốt để vượt qua “NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG” đầy gian lao và phiền não. Bất kỳ hoàn cảnh nào, bất kỳ địa vị nào cũng đều hướng tới mục tiêu lý tưởng. Hầu mong, người người được hạnh phúc, nhà nhà an vui, thế giới hòa bình, chúng sanh tìm được lối giải thoát, và cũng là thông điệp mở rộng tình thương bao la: “TỪ”: biết đau thương khi thấy người khác hoạn nạn: “Bi”; biết vui vẻ chấp nhận nghịch cảnh thất bại để tìm ra hướng đi tốt: “HỶ”; biết rũ bỏ những tập tục cổ hủ, quan niệm lạc hậu không ích lợi cho việc phát triển xã hội “XẢ”. Bốn yếu tố “TỪ, BI, HỶ, XẢ” này chính là bốn sách lược lớn để tất cả chúng ta luôn hướng đến và đạt được những gì mình mong muốn. Đề tài bất hủ này dẫu trải mấy ngàn năm, đến giờ vẫn không phai nhạt mà ngày càng tăng phần giá trị. Ngày nay, khoa học hiện đại càng phát triển chừng nào thì tư tưởng trong kinh điển đức Phật càng hợp thời chừng ấy.

Khi nhìn lại ánh trăng huyền diệu sáng tỏ trên bờ sông Hằng, chúng ta có những suy nghĩ gì về “NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG” của đức Phật?! Phật Pháp khó được gặp, đã có được gia tài Pháp bảo, lẽ nào chúng ta không gìn giữ và phát huy! Sở dĩ, chúng ta được thừa hưởng Pháp bảo là do công lao truyền thừa của “Tây Thiên Đông Độ Lịch Đại Tổ Sư”. Có những vị Tăng đã viết kinh văn vào lụa mỏng rồi xẻ thịt nhét vào, vượt ra khỏi Ấn Độ truyền đến Trung Hoa, như bộ kinh Lăng Nghiêm, vì quốc bảo không được truyền ra ngoài. Nếu không có công lao các vị Thánh tăng ấy thì liệu ngày nay chúng ta có được Pháp bảo chăng? Nếu không có những vị làm công việc hoằng pháp thì Pháp bảo sao đến tai chúng ta? Cho nên, việc gầy dựng sự nghiệp đã khó, mà ra sức giữ gìn và phát huy sự nghiệp càng khó hơn. “Thành lập nan, thủ thành bất dị”.

“Đạo bất viễn nhân, nhân chi vi đạo nhi viễn nhân, bất khả dĩ vi đạo”.

(Đạo không xa người, người vì đạo mà xa lánh mọi người, thì đó không thể gọi là đạo).    

Trong kinh Viên Giác, đức Phật đáp lời thỉnh cầu vì chư Bồ tát và chúng sanh đời mạt pháp của Oai Đức Tự Tại Bồ tát: “Thiện nam tử! Vô thượng Diệu Giác, biến chư thập phương, xuất sanh Như Lai, dữ nhất thiết pháp, đồng thể bình đẳng, ư chư tu hành, thật vô hữu nhị.”, (Này thiện nam! Vô thượng Diệu giác, trải khắp mười phương, sanh ra Như Lai, và tất cả pháp, cùng thể tánh ngang nhau, ở các việc tu hành, thật không có hai).

Trang Ảnh

Pháp Âm

Thống kê

Hiện có 3 khách đang trực tuyến

44

2641

91908

 

Âm lịch

Copyright @ 2009-2010 Chùa Kỳ Viên Trung Nghĩa
132 Sinh Trung, Nha Trang, Khánh Hòa, Việt Nam
Điện thoại: +84.58.3827197; 3500252
Cố Vấn: Hòa Thượng Thích Trí Viên | Biên Tập: ĐĐ. Thích Huệ Pháp
Thư điện tử xin gởi về: huephap@gmail.com
Ghi rõ địa chỉ nguồn "kyvientrungnghia.com" khi đăng lại từ trang web này