Tinh thần nhập thế của đạo Phật

Tác giả: Tiểu Ngu

 

Với những cái nhìn thiển cận, nhiều người cho rằng tư tưởng của nhà Phật từ xưa đến nay xét cho cùng chỉ là một tôn giáo vô vi, yếm thế, không tham dự bất cứ việc gì để làm cho xã hội và nhân loại tiến bộ. Sự đánh giá này thật quá ư là sai lệch và nhầm lẩn.

Phải khẳng định rằng, đạo Phật mang tính nhập thế hoàn toàn, Lục Tổ Huệ Năng có dạy, “Phật Giáo tại thế gian và không rời cái thấy biết của thế gian”. Phật giáo luôn luôn tồn tại và phát triển với dòng chảy chung của mỗi một dân tộc là điều không thể phủ nhận.

Ngược dòng thời gian, tinh thần và chủ trương cứu đời cứu đạo của đức Phật trong suốt 49 năm thuyết pháp của Ngài là không ai có thể sánh kịp, với tinh thần đó, sau này các vị Bổ Tát vì pháp quên thân cũng đã làm những điều mà người thường không phải ai cũng làm được, vượt lên trên những điều đó, đạo Phật còn mang giáo lý của một tôn giáo xuất thế, nghĩa là mỗi người phải trừ bỏ những phiền não của thế gian đang vướng mắc trong mỗi chúng ta, tất cả chúng ta sống trong cuộc đời nhưng không bị vướng bận bởi những phiền não của thế gian, tức là ta có xã hội, có vợ chồng, có con cái nhưng không bị vướng bận bởi những thứ đó, đây chính là tư tưởng xuất thế của đạo Phật.

Khi Phật giáo thâm nhập vào dân tộc nào thì nhiều hay ít đều ảnh hưởng lâu dài đến dân tộc đó, chẳng hạn đa số nhân dân Nhật Bản, Thái Lan, Hàn Quốc… đều tín ngưỡng Phật Giáo nhưng nguyên nhân đâu họ lại cường thịnh đến như vậy, đơn giản đó là vì giáo lý Phật Đà đã thấm nhuần trong mỗi tế bào trong con người họ.

Ngược dòng lịch sử, khi những bước chân đầu tiên của các nhà truyền giáo đặt chân vào lãnh thổ Trung Hoa cổ, họ đã vấp phải không ít khó khăn khi đứng trước họ là một hệ tư tưởng “tín ngưỡng bản địa” với sự độc tôn của Nho giáo, khi mà mọi tư duy, mọi vấn đề trong cuộc sống đều phải được giải thích dưới thế giới quan duy tâm theo thuyết “Thiên Mệnh” của Nho giáo thì việc có một “người” còn trên cả ông “Trời” thì đó là điều khó có thể chấp nhận được, nhưng với tinh thần “Nhập gia tùy tục” thì những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức của người quân tử, người cầm quyền, đạo đức xã hội như Ngũ Luân, đạo đức cá nhân như Ngũ Thường được các nhà truyền giáo tiếp thu và dung hợp, tạm coi đó như là công cụ, là lát gạch đầu tiên cho công cuộc truyền giáo. Sự hỗn dung hai tôn giáo Phật và Nho này không chỉ xuất phát từ tính khoan dung mà còn từ thế giới quan, từ nhu cầu kiến giải thế giới của con người. Nho giáo với tư cách là học thuyết chính trị- xã hội đáp ứng nhu cầu quản lý, điều hành xã hội đi vào trật tự, kỷ cương, mối quan hệ giữa người với người trong xã hội nhưng với những vấn đề về tâm linh, về giải thoát của con người, vấn đề trong cuộc sống thì Nho gia không đáp ứng được, cho nên với nội dung tư tưởng của mình, Phật Giáo đã đáp ứng được nhu cầu đó.

Đó không phải là sự bắt chước mà là sự sáng tạo với mục đích là rút ngắn con đường tư duy lý luận của một dân tộc đang có kiến giải những vấn đề của tự nhiên - xã hội - tâm linh và con người

Khoảng đầu thế kỷ thứ nhất,(*) nếu như Nho giáo là công cụ của đội quân xâm lược (Trung hoa) nên không nhận được cảm tình của dân tộc ta thì Phật giáo lại khác hoàn toàn, đạo Phật được dân tộc ta tiếp nhận và hòa nhập một cách hòa bình, tự giác trên tinh thần thân thiện, cởi mở. Vì vậy, Phật giáo sớm ảnh hưởng lâu dài và sâu rộng trong đời sống cộng đồng xã hội người Việt về tất cả các lãnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa… từ thời Đinh, Ngô, Lý, Trần… Phật giáo chiếm ưu thế rất lớn trong lòng xã hội thời bấy giờ, các ngôi chùa và triều đình có quan hệ khá mật thiết, nhà chùa cung cấp cho triều đình những tri thức Phật giáo để phục vụ cho chính trị, đặc biệt là trong quan hệ bang giao với các nước khác. Các vị Sư đều được vua tin kính, vâng hỏi ý kiến trong moi việc từ kiến thiết đất nước đến văn hóa tâm linh thậm chí cả việc chống giặc ngoại xâm.

Nhìn chung tư tưởng Phật giáo thời bấy giờ luôn mang xu hướng nhập thế, tư tưởng cũng như hình thức đều mang một cái gì đó mới mẻ phù hợp với thời gian cũng như không gian, bối cảnh lịch sử thời bấy giờ.

Đến thời cận đại, tinh thần ấy càng được thể hiện và nâng cao lên một tầm cao mới với những cuộc đấu tranh như “bất bạo động” của đức thánh Mahanda Karamchand Gandhi (1869 - 1948), hay “Ngọn lửa lịch sử” của Bồ Tát Thích Quảng Đức…

Tất cả những điều ấy cũng chỉ để nói lên một điều, đó là “Đạo Phật luôn luôn và mãi mãi gắn mình với cuộc đời, đi liền với những thăng trầm của lịch sử, cũng như những khổ đau trong cuộc sống của con người”

 

GC:

(*): Năm 580 ngài Tỳ-Ni-Đa-Lưu-Chi(? - 594) sang Đại Việt (Việt Nam) lập nên dòng thiền mang tên Ngài, dòng thiền này tồn tại hơn 6 thế kỷ (580-1213).

Trang Ảnh

Pháp Âm

Thống kê

Hiện có 3 khách đang trực tuyến

33

4277

245149

 

Âm lịch

copyright@2008-2010 kyvientrungnghia
Chứng Minh: Hòa Thượng Thích Trí Viên | Biên Tập: Tăng Chúng Chùa Kỳ Viên, Trưởng ban: Thích Huệ Pháp
Bài vở góp ý xin gởi về: tamthikyvien@gmail.com hay huephap@gmail.com
Liên lạc thư tin xin gởi về: Chùa Kỳ Viên Trung Nghĩa, 132 Sinh Trung, Nha Trang, Khánh Hòa
Điện thoại: (0084) 58.3827197 hoặc (0084) 121.221..9120