Đôi lời
Du hóa tập là tựa đề tuyển tập những bài viết mà chúng tôi đã cảm nhận, sáng tác trên bước đường tu tập và hành đạo. Phần lớn những bài viết trong tuyển tập này đã đăng trong Nguyệt san và Tuần báo Giác Ngộ; một số khác đăng trong những Tập san, Nội san Phật đản, Vu lan của các tỉnh và các chùa trong nước.
Thể theo yêu cầu của một số thân hữu và phật tử gần xa nên chúng tôi mạo muội tuyển lại những bài viết đó và xem đây như là một sự sẽ chia những rung cảm, thấy biết của mình trên bước đường tìm cầu chân lý giải thóat. Dẫu biết rằng, với sở kiến hữu hạn thì khó với tới tầm mức của cái vô hạn, vô biên cũng như không thể chuyển tải hết những cảm nhận của riêng mình đối với hiện thực đầy sinh động mà chúng ta đang sống. Thiết nghĩ, không thể đòi hỏi ở tuyển tập một bố cục chặt chẽ mà chỉ là những chia sẽ tâm hân hoan của mình trên đường đạo đến với mọi người .
Với tất cả niềm trân trọng, xin gửi đến bạn đọc tuyển tập này và chúng tôi xem đây như là những hoa trái đầu mùa trong vườn ươm thắng pháp mà từ lâu chúng tôi đã có cơ duyên hội ngộ.
Tác giả cẩn chí
-----------
Phần 1
KHƠI NGUỒN
NGÀY XUẤT GIA BÁO HIẾU
Trong tất cả lễ hội của Phật giáo, chúng ta thấy rằng Vu-Lan Báo Hiếu là một lễ hội được quần chúng biết đến, quan tâm nhiều, dù người đó là Phật tử hay không phải Phật tử. Dân gian quen gọi ngày rằm tháng bảy là ngày lễ Trung Nguyên, ngày “Xá tội vong nhân” qua khẩu truyền.
Văn hóa Việt Nam, lời ca về tình Cha và nghĩa Mẹ cao vời là những bài học vỡ lòng luôn được trân trọng, bảo tồn trong nền văn hóa của dân tộc và được xem như là nền văn minh của xứ sở chúng ta. Những tình cảm chân thành xuất phát từ trái tim của người con thể hiện trên lời ca tiếng hát của những người con khi nhớ đến Cha mẹ, đọng lại trên những trang giấy trắng, biến thành những bức tranh tuyệt tác, một khi chúng ta chiêm nghiệm đến, nó vẫn luôn sáng tỏ niềm tin yêu vô hạn. Bởi lẽ, tình yêu của Mẹ đã không còn của riêng ai và ai lại không có Mẹ? Tình thương của Mẹ đã vượt qua biên giới suy luận, thành trì cản ngăn giữa các quốc độ.
Văn hóa Phật giáo đã đậm đà trong nền văn hóa dân tộc rất nhiều lĩnh vực; đạo đức Phật giáo đã đi sâu, làm căn bản dẫn đường trong cách sống, nếp nghĩ, ứng xử giữa người với người và sâu hơn là giữa nhân lọai, muôn loài.
Hạnh xuất gia để báo hiếu không chỉ riêng đạo Phật, vì đã có một vài tôn giáo nhất là tôn giáo phương Đông đã nêu cao tinh thần này. Tuy nhiên sự khác nhau của chúng được thể hiện trong nội dung giải thoát và phương cách hành trì.
Tấm gương của thái tử Tất Đạt Đa phát tâm xuất gia chứng quả giác ngộ và trở thành quả vị toàn giác, giải thoát cho mình và cho người ra khỏi khổ não thiêu đốt trong ba đường, lên xuống sáu nẽo là một biểu tượng sáng ngời. Kế tiếp đó, Tôn giả Mục-Kiền-Liên sau khi chứng quả A – La - Hán, ngài đã dùng thần thông soi xét chốn của Mẹ mình đang thọ nạn để tìm cách cứu Mẹ, là một cách báo hiếu trọn vẹn của đạo Phật tròn đầy trên cả hai phương diện: thể xác và tinh thần. Gần đây nhất, để đền đáp công ơn sanh thành sâu dày của ông bà, cha mẹ nên đã có những người con phát tâm xuất gia là một minh chứng tất yếu.
Cho đến hôm nay, tinh thần phát tâm xuất gia tìm đường giải thoát, vì hạnh phúc cho mình và cho người vẫn được nêu cao. Đây là điểm đặc thù khác nhau giữa các tôn giáo. Từ cơ sở này, ý tưởng xuất gia ngắn ngày dành cho những người không đủ thuận duyên xuất gia suốt đời để báo hiếu ông bà cha mẹ quá vãng, là nét văn hóa đạo đức chỉ có trong tôn giáo mà ở đây là Phật giáo. Nét sinh họat văn hóa xuất gia ngắn ngày được thể hiện rộng rãi tại các nước theo truyền thống Phật giáo Nam truyền như: Thái lan, Lào, Miến điện, Sri Lanka v.v… Trong những nước này, nổi bật nhất là Phật giáo Thái Lan, hạnh xuất gia ngắn ngày dành cho các em thiếu nhi thường được tổ chức và xem như là một truyền thống đạo đức trong sinh họat văn hóa Phật giáo, được tổ chức thường xuyên vào mùa hè; người lớn thì không phụ thuộc vào thời gian ((2) Dr. Kusalasaya Karuna, Buddhism In Thailand ( Its past and Its Present).Mental Health Publishing House.Bangkok.ISBN 974-409-086-3.Third Printing 2001.2).
Tại Việt Nam chúng ta, tinh thần xuất gia ngắn ngày để báo hiếu chưa được thực hiện rộng rãi. Thông thường, khi cha mẹ qua đời, hình thức báo hiếu thường được biểu hiện qua những việc như tụng kinh, cầu nguyện, bố thí, phóng sanh, làm nhiều việc lành, ăn chay v.v… Nếu là gia đình Phật tử thì hướng dẫn con cháu của mình noi theo những gương hiếu hạnh của các vị Thánh Tăng.
Hiện nay, có rất nhiều con em trong gia đình truyền thống đạo Phật, đã trở thành những Phật tử có quy y Tam Bảo. Tuy nhiên, đối với các em, cảnh chùa vẫn còn nằm trong ý tưởng, khái niệm, hoặc khá hơn thì chỉ đến chùa đôi ba lần trong vài ngày lễ lớn của năm. Tình hình này nhìn chung diễn ra khá phổ biến, có lẽ do nhiều người chưa hiểu trọn vẹn ý thức tự giác của đạo Phật, nên không bắt buộc con cháu có nên đến chùa hay không. Mặt khác, với cuộc sống hiện nay, trong trào lưu lấy kiến thức làm đầu, trẻ thơ được nhồi nhét bao nhiêu là chữ nghĩa và ít được chú tâm đến con đường tâm linh. Đây quả thật là một sự thiếu sót lớn, vì con người nếu như không được bồi dưỡng chăm sóc về phương diện tâm linh, có khả năng trở thành kẻ phá sản những gì của chính con người tạo nên, những gì ông cha ta đã gây dựng. Đây là một trọng trách lớn mà mỗi bậc làm cha, làm mẹ cần phải để tâm lưu ý. Đừng lầm lẫn rằng, mình là những Phật tử thì sau này con cháu của mình sẽ là những Phật tử! Sẽ không thể có những lớp Phật tử kế thừa sau này có tu, có học, có hạnh, trung thành với đạo, xả thân vì đạo nếu như chúng ta không quan tâm, tạo điều kiện cho trẻ thơ đến với ánh sáng giác ngộ ngay từ bây giờ.
Đã có nhiều gia đình Phật tử tổ chức sinh họat cho các em vào mỗi chiều chủ nhật, vài buổi học giáo lý trong tuần, trong tháng… Tuy nhiên, xét trên hiện trạng thực tế, vẫn chưa đủ đáp ứng yêu cầu hướng các em đến với Tam bảo một cách thích thú và tự nguyện, nói theo ngôn ngữ hiện tại là chưa đủ “sân chơi” hoặc các sân chơi còn quá nghèo nàn, chưa đủ hấp lực để thu hút thiếu nhi - tuổi trẻ đến với đạo Phật. Hiện nay, đã có nhiều chùa bổ khuyết, tổ chức cho các em thêm những sinh họat như: Ngày An Lành; Ngày Tỉnh Giác; Ngày Vượt khó; Ngày Chuyên Cần; Ngày Xuất Gia Báo Hiếu trong mùa Vu Lan v.v... tất cả những ngày ấy mục đích tạo cho các em gần gũi và mạnh dạn đến với mọi người, tìm hiểu những sinh họat của chùa, làm quen với sự yên tỉnh của chốn Già lam và nhất là hiểu về truyền thống của cha ông mình.
Đặc biệt theo chúng tôi, tuy hình thức Ngày Xuất Gia Báo Hiếu vẫn còn xa lạ trong tập tục, trong văn hóa Phật giáo tại Việt nam, nhưng nếu như có một sự gạn lọc, tiếp thu và khéo léo trong tổ chức thì đây là một truyền thống văn hóa đầy tích cực và cần nên phát triển rộng rãi. Vì đây là một nét sinh họat văn hóa mang giá trị đạo đức và truyền thống hiếu hạnh lâu đời của Phật giáo. Thiết nghĩ, Ngày Xuất Gia Báo Hiếu không những được tổ chức rộng rãi trong mùa Vu Lan mà cần phải được tổ chức nhiều ngày hơn nữa, thường xuyên trong mùa hè (những lúc thời gian có thể cho phép, những nơi có thể tổ chức). Làm được việc này, đòi hỏi cần có sự động viên các em từ các bậc phụ huynh, sự nỗ lực của Tăng Ni, Phật tử. Nếu mô hình này được nhân rộng, thì lợi lạc sẽ là vô biên. Bởi lẽ, một ngày xuất gia và được sống trọn vẹn ở trong chùa, không những các em ý thức được sự hiếu thảo với ông bà cha mẹ qua lời dạy của quý Tăng Ni và các anh chị hướng dẫn; hiểu rõ cội nguồn của ông bà tổ tiên nhiều đời kiếp; các em sẽ được trang bị và có một đời sống hướng thượng, trang trải tình thương yêu đến mọi người, biết chia sẻ những khó khăn với bạn bè. Với hình thức tổ chức tu học này, các em sẽ gieo trồng được căn lành gần với hạnh giải thoát, có lòng tin vững chắc với Tam Bảo để phụng sự nhiệt thành cả đời và đạo. Một ngày xuất gia ở tại chùa là một ngày hạn chế nhiều sự lo lắng của các bậc phụ huynh, nơi đây các em được học hành và được chăm sóc trong tình thương không biên giới, được nuôi dưỡng bởi những lời dạy thuần khiết thấm đẩm tính nhân văn.
Dù chỉ một ngày thôi, tuy là ít so với thời gian của một đời người, nhưng đối với trẻ thơ là một sự chuyển động tích cực mạnh mẽ trong tâm thức, sẽ đi mãi không hề phai nhạt trong ký ức của các em dù phải trãi qua bao năm tháng. Bởi lẽ, bất cứ ai trong mỗi chúng ta đã từng có những kỷ niệm sâu sắc đọng lại lại trong lòng như tình bằng hữu, tình yêu quê hương…trong thời ấu thơ. Đối với các em, những chất liệu ngọt ngào được tích lũy từ sự thực tập theo truyền thống. Một Ngày Xuất Gia Báo Hiếu mãi mãi là những chất liệu cần, luôn làm tươi mát và bổi bổ hành trang vốn nhiều lặn lội, đua chen.
Mùa Vu-Lan Báo Hiếu không những chỉ dành riêng cho những người làm con, mà những bậc làm cha mẹ cũng cần phải thể hiện và chứng tỏ vai trò đích thực của mình để các con được học hỏi và noi theo. Tất cả việc làm trên sẽ thể hiện trọn vẹn tinh thần hiếu hạnh của đạo Phật và truyền thống văn hóa của dân tộc Việt nam.
---------------------
TƯ DUY VỀ MẸ
Từ ngàn xưa cho đến hôm nay, đã có rất nhiều, và rất nhiều cảm niệm về Mẹ. Mẹ, chỉ có một ý niệm này thôi mà đã thôi thúc bao áng văn hay, trác tuyệt diễm lệ để diễn tả về Người; và, cảm nhận của chúng ta về Mẹ thì dường như bất tận. Sao lại không bất tận? Tình Mẹ đối với con đâu có ý nghĩa về không gian và thời gian, bầu sữa Mẹ có thể dứt nhưng tình thương của Mẹ không bao giờ chấm dứt. Những người con khi đã khôn lớn, dù Mẹ không còn nữa nhưng hình ảnh Mẹ đã in sâu vào tâm khảm, theo con từng bước chân nhịp thở, từng những giây phút đớn đau nhất để vực con đứng dậy, nâng con đi, mẹ dõi theo những đêm đông lạnh buốt để sưởi ấm cho con, để vỗ về cho con có sức mạnh sống đời.
Cũng từ ý niệm về Mẹ, chúng ta thấy cuộc đời này dài ra vô tận, cuộc đời không thể đọan diệt, vì chúng ta còn hơi thở, hơi thở ấy chính là Mẹ. Vậy Mẹ mới là bao la chứ! Tiếng Mẹ ơi, con gọi hoài không đủ:
Ngôn ngữ trần gian là túi rách
Chứa không đầy hai tiếng Mẹ ơi!
Ngôn ngữ rất xa vời thế giới bất diệt, một thế giới phi tính toán, chẳng suy lường, thế giới đó chính là Mẹ. Càng suy lường dựa dẫm vào ngôn ngữ, chúng ta càng thấy tối tăm, rối bưng bởi óc phán đoán và trí tưởng tượng với vô số những cảm xúc, gây hấn của thế giới đối đãi. Mẹ đã vượt qua, Mẹ nào tính toán, Mẹ đâu suy lường, Mẹ đã nằm trong thế giới bất diệt. Thế thì làm sao chúng ta có thể gọi Mẹ. Mẹ đã vô phân biệt, Mẹ đã vượt qua ức niệm, Mẹ đã vượt qua cảnh giới vô thường, Mẹ đã thường hằng trong cảnh giới vô thường thì ngôn ngữ nào chúng ta có thể tạm dùng để gọi Mẹ !!.
Trong tất cả các kỳ quan
Kỳ quan đẹp nhất vẫn là trái tim của Mẹ.
Óc thẩm mỹ và tài năng của con người có thể kiến tạo lên các kỳ quan tuyệt mỹ, nhưng làm sao có thể kiến tạo được trái tim của Mẹ. Vì trái tim của Mẹ được hình thành với một chất liệu đặc biệt, chất liệu đó phi vật chất, lìa vọng tưởng đảo điên. Trái tim của Mẹ không có sự phân biệt giữa xấu và đẹp, không có sự phân biệt giữa hữu thể và vô thể.
Mẹ đẹp nhất! Trái tim của Mẹ vẫn đẹp nhất, vì kỳ quan đó không dời đổi với thời gian và vô tận trong không gian,kỳ quan đó hiên ngang trước sóng vỗ ba đào, vẫn đứng vững lồng lộng giữa trời xanh mây biếc. Dù có rêu phủ đá mòn, trái tim của Mẹ vẫn toát ra những hơi ấm, thậm chí còn tưới tẩm vun bồi thêm những thứ rong rêu ấy. Thế mới gọi Mẹ chính là kỳ quan đẹp nhất.
Mẹ là thời gian!
Vâng, chính mẹ là thời gian! Thời gian đó không phải ngày và đêm. Nếu Mẹ là thời gian của sáng và tối, thì sẽ mất đi ban đêm và hiện hữu ban ngày. Nếu Mẹ là thời gian của ngày và đêm thì Mẹ không còn là Mẹ, Mẹ là con và con là Mẹ. Bởi chính Mẹ là thời gian, và không phải thời gian của ngày và đêm, do đó Mẹ chính là Mẹ. Mẹ không bao giờ chết đi, Mẹ vẫn hiện hữu.
Mẹ vẫn hiện hữu!
Trong cành lá có hơi thở của Mẹ. Trong nắng ấm, trong sương tan, trong mưa bão… mỗi mỗi đều có hơi thơ của Mẹ! Do đó, Mẹ hiện hữu, hiện hữu trong sát-na sinh diệt. Vì Mẹ mãi mãi vẫn hiện hữu, nhìn đâu con cũng thấy Mẹ, trong mỗi bước chân, trong giấc ngủ. Mẹ cũng là trái tim! Trái tim con hiện hữu, Mẹ cũng hiện hữu cho dù hôm nay con đã quên tìm kiếm Mẹ.
Vì tâm thức con đã có Mẹ!
Già lam mùa Vu lan 97
----------------------
LỜI CỦA MẸ
Bé Phương chạy quanh quẩn trong sự chăm nom đầy tình thương yêu của Mẹ. Sống ở một miền quê, cách thành phố nhộn nhịp huyên náo không xa, nhưng với mật độ dân cư thưa thớt lúc bấy giờ, nơi đây trở nên trống vắng, cảnh thôn dã về đêm cô liêu tịch lặng. Mỗi khi hoàng hôn phủ xuống, những ngọn đèn dầu leo lét được thắp sáng, sự yên tĩnh của khí trời cùng hòa quyện tiếng kêu xa của loài côn trùng rĩ rả. Tiếng gáy vọng của vài chú dế và tiếng gọi nhau đưa đẩy của vài chú cóc nào đó bên bờ ruộng hòa lẫn vào nhau để tạo nên một khúc hòa tấu sơ khai của đất trời.
Bé Phương rất sợ hãi khi những âm thanh hòa quyện đó được cất lên, em có cảm giác ghê rợn, tưởng chừng xung quanh em là cả một mối đe dọa khủng khiếp. Khi nghe những âm thanh ấy, bé Phương nghĩ rằng em đang lạc vào một thế giới riêng biệt, một thế giới không cùng với thế giới loài người. Tuổi thơ, Phương chưa đủ nhận thức để đắm mình trong suy tư về một thế giới bên ngoài bao la, rộng lớn. Thỉnh thoảng mỗi buổi sáng thức dậy sớm, Phương theo mẹ quét những chiếc lá rơi từ cây cổ thụ trước nhà, nhặt những cánh lá già yếu ớt, không đủ sức để chống chọi với đất trời, đành rơi rụng lả tả trước những cơn gió lớn cuốn phăng chúng tối qua.
Đôi chim nào đó, trên đường xa ngàn dặm bay ngang qua không tìm được chỗ trú chân, đành dừng bước, những đôi cánh mềm mại ấy mệt mỏi từ phương trời nào đến, chới với, tạm dừng chân trên mái hiên nhà của Phương tối qua, cất tiếng hót trong khí trời ban mai lảnh lót, âm thanh của chúng nhẹ nhàng cất lên khiến Phương trở về với thực tại. Bé nhìn chúng và nói với Mẹ rằng: Ôi những chú chim non đẹp quá, làm sao có những con chim đẹp thế hở Mẹ? Nó từ đâu bay đến, bố mẹ chúng ở đâu, chúng có anh em không mẹ? Bao nhiêu cây hỏi ngây thơ cùng một lúc tra khảo Mẹ. Mẹ vui lây với sự tò mò của con, vừa non dại, vừa pha một tí khôn lanh. Trong đôi mắt đầy thương yêu, bà ta đã trả lời con bằng nụ cười và xoa bàn tay trên mái tóc khi thấy con mỗi ngày khôn lớn.
Rồi Mẹ im lặng, Phương nhìn Mẹ như đang đợi câu trả lời. Tuy thế, đôi mắt long lanh trong sáng của em vẫn hướng về đôi chim đang vỗ cánh, trao nhau những tiếng hót lãnh lót như đang chia sẻ với nhau những suy nghĩ sau một đêm tạm nghỉ trước hiên nhà. Bất chợt, một tiếng động nào đó vang lên đã làm cho đôi chim hốt hoảng bay vút, bé Phương cứ dõi mắt nhìn theo, cho đến khi chúng bay xa, bay cao vượt khỏi tầm mắt của mình, để lại bên em một chút tiêng tiếc, buồn buồn. Nỗi buồn cứ hiện trong đôi mắt, trên khuôn mặt của con. Thấy thế mẹ Phương liền hỏi:
- Con có thích những con chim đó không?
Câu hỏi của Mẹ tựa như vị thuốc thần trấn tỉnh ngay dòng suy nghĩ miên man của em, đôi mắt Phương sáng lên niềm hy vọng, mừng rỡ trả lời:
- Mẹ bắt chúng cho con đi, con rất thích nó.
Dễ thương thay, vuốt đầu con bà ôn tồn bảo:
- Loài chim tuy nhỏ nhưng chúng vẫn có một cuộc sống riêng tư, như bao loài vật khác đang hiện hữu trên cõi đời này, con ạ! Chúng không chấp nhận sự nuôi dưỡng của người khác, ngoài cha mẹ và sự giúp sức của đồng loại của chúng. Chúng không muốn bị kềm hãm trông ngôi nhà đẹp do kẻ khác làm ra. Loài chim chỉ thích ăn những trái chín còn ở trên cây do đất trời biếu tặng, thích ngủ trong những ngôi nhà đơn giản do chính chúng tạo ra hoặc thiên nhiên vô tình ban phát, đời sống của chúng là vậy đó! Chúng sẽ đau khổ và kêu la thảm thiết khi bị nhốt vào lồng, dù loài người có tử tế cỡ nào chăng nữa. Những món ăn của con người đem đến không làm thỏa mãn cho chúng, ngược lại còn mang mùi chua chát.
Nghe Mẹ nói xong, bé Phương liền bảo:
- Vậy loài chim nhỏ bé chúng khôn quá hở Mẹ.
Bà mẹ lại vuốt đầu con lần nữa, như để cảm tạ trời đất đã cho mình một đứa con có sự nhận thức vượt trội thời gian.
**
*
Ngày tháng trôi qua, trôi qua không một chút lưu luyến, như vì sao nào đó xẹt qua màn đen của bầu trời vô tận, không để lại dấu vết mà không biết sẽ bay về đâu.
Một ngày nọ, được dịp Mẹ cho lên thành phố thăm lại bà con trong một thời gian dài xa cách. Bé Phương được mẹ dẫn vào sở thú, em rất sung sướng, một sự sung sướng khơi dậy từ đáy lòng. Tận mắt thấy được nhiều loài chim còn đẹp hơn những con chim mình đã từng thấy, tiếng hót của chúng vô cùng lãnh lót, vang động như tiếng sáo thổi giữa khoảng không vi vút, như tiếng đàn của chàng Trương Chi trong chuyện cổ tích thuở nào mà em đã được nghe Nội kể hằng đêm. Và rất nhiều loại thú khác, lớn có nhỏ có, đủ màu sắc, đủ tướng trạng. Lần này không như mọi lần trước, Phương không đòi hỏi có được một chú chim dễ thương trong tay để vuốt ve, âu yếm; bởi lẽ Phương đã được mẹ kể về sự khôn ngoan của loài vật nhỏ bé này.
Trên đường về, hai mẹ con vui vẻ, đặc biệt nỗi vui của người con làm lay động tình cảm của Mẹ. Phương rất thích chuyến đi này, có lẽ đây là lần đầu tiên mà em sung sướng đến thế, tận mắt thấy những gì mình thích. Và luôn hy vọng rằng, sẽ có một dịp nào đó, Mẹ sẽ cho mình ở lại nơi này chơi lâu hơn nữa và để nghe các loài vật chúng nói gì.
Đến nhà, trong tâm hồn thầm kín của Phương vẫn còn ngây ngất với không khí được đi xem sở thú. Tất cả khi đã chín mùi tự nó phải tuôn trào và cứ tuôn trào mãi khó có thể ngăn chặn lại được. Phương hỏi Mẹ: Mẹ à! Tại sao người ta lại nhốt những con vật dễ thương đó, trong khi nó không muốn như thế. Một câu hỏi bắt nguồn tận đáy lòng của em, mang theo nhiều bực tức và giận dữ, kèm theo bao nhiêu sự lo lắng. Tại sao có con người và con vật hở mẹ? Nó có trở thành con người được không? Bao nhiêu câu hỏi được đặt ra, và cứ dồn dập, Phương cầu Mẹ phải giải đáp. Bà Mẹ cú nhẹ trên đầu con rồi im lặng xa trông, sự trầm tư của Mẹ khiến cho Phương lại thêm chú ý và mong đợi. Bà Mẹ đáp: con còn nhỏ không nên hỏi nhiều chuyện quá, khi nào lớn đi học, lúc ấy con sẽ biết tại sao và tại sao… tuổi còn nhỏ không nên thắc mắc nhiều, con hãy vui chơi giống như các bạn của con, đừng suy nghĩ nhiều vì sẽ làm cho con vất vả lắm. Bà Mẹ nghiêm khắc vỗ về.
Tuy nghe lời Mẹ. Nhưng Phương vẫn không từ bỏ suy nghĩ của mình, hình như nó đã ăn sâu và đeo đẳng trong ký ức của em từ bao giờ, đó là chiều suy nghĩ.
Thời gian! Thời gian cũng lại trôi qua như mọi khi một cách lạnh lẽo, lững lờ, mỗi lần trôi là mỗi lần sức sống của Phương mãnh liệt, sung mãn và đầy ý vị. Vấn đề thắc mắc trong tâm trí của em và lời của Mẹ đã lớn dần theo năm tháng và sự hiểu biết, không ai khác: “Tất cả đều do hành động của con người tạo ra”.
Bé Phương năm xưa không còn nữa, bây giờ là một cô gái trưởng thành, đầy đủ suy tư và mơ ước, không còn bận bịu với những câu hỏi vu vơ như xưa. Khuôn mặt tròn trịa và đôi mắt sáng rực hiểu biết của em, cân xứng với tấm thân và dáng đi chậm rãi, vững chắc. Bao nhiêu điều thắc mắc lơ lững non dại đó không còn nữa, giờ này nó đã được lớn lên theo dòng tư tưởng của một người trưởng thành thật sự.
Theo suy nghĩ của Phương, những con thú đó phải nhận lãnh quả báo là do hành động nào đó trong quá khứ, và nó sẽ thọ lãnh mãi cho đến khi nào có sự hối cải, chuyển tâm, đổi nghiệp của mình và phải quyết chí cải tạo hành động đó. Không có một ai khác có thể thay thế việc nhận lãnh hậu quả bằng cách này hay cách khác. Chúng ta không thể trốn thoát hậu quả mà mình gây ra, dù trốn trong núi cao vực thẳm, ở thế giới này hay thế giới khác, ở thời điểm này hay thời điểm khác. Dù có chạy suốt cả cuộc đời rồi rốt cuộc cũng phải trả quả báo mà thôi! Theo qui luật nhân quả, rồi chúng ta cũng sẽ bị gông cùm, bị trở thành thú nếu như chúng ta gây những hành động bất thiện với người khác, bằng vụ lợi riêng tư và trên mồ hôi nước mắt của họ. Chỉ cần khởi lên một ý niệm bất thiện là sẽ có một hậu quả. Sở thú này, chúng ta đã xem hoài không biết nhàm chán và sẽ mãi diễn ra không bao giờ chấm dứt, nếu không có một sự thay đổi lớn, một sự nhận thức sâu sắc về nhân quả và về hành động của chính mình.
Phương lại được Mẹ dạy và cảm nhận rằng, sở thú từ con người mà có, không phát xuất từ nơi tác nhân sâu kín vô hình nào mà chính từ nơi tâm con người tạo ra. Từ đó, Phương không muốn chứng kiến cảnh tượng những con thú bị gông cùm bên miếng thịt ngon mà con người đã cho nó, rồi sau đó sai khiến nó làm trò vui cho khách vãng lai.
Phương cảm nhận thật sâu sắc từng bước đi của tư tưởng, biết rằng chính trong đầu óc, suy nghĩ của con người là một sở thú hấp dẫn, vườn thú trần gian khó có thể sánh bằng. Có những lúc tâm con người thật thánh thiện, là những bông hoa tươi đẹp làm an vui cuộc đời, có lúc là một sự hăm dọa, là những tay săn thú bịp bợm, ghê tởm, biến dạng, thay đổi tướng trạng không cùng.
Nghe chim hót những bài ca tuyệt tác gây hưng phấn lòng người, khơi dậy đời sống thật sự an lạc, đó là chính là lúc ta nghĩ đến con đường không vụ lợi riêng tư. Nghe những loài thú gầm gừ, dữ tợn muốn nuốt sống con người, đó chính là ngọn lửa sân hận đang bốc cháy hừng hực trong ta.
Ngồi xem sở thú để gạn lọc, để suy xét tâm thức, lúc ấy ta thật sự mỏi mệt, không cần phải xem sở thú ở đâu nữa. Và sở thú ấy chính là sự hiểu biết của chúng ta gây dựng nên.
**
*
Lời của Mẹ đã đi cùng Phương theo năm tháng, từ khi dòng suy nghĩ của Phương chập chững vào đời, cho đến hôm nay nó vẫn mãi bất biến và chính chúng cũng là hơi thở, là sự nghiệp, là tác nhân để con người có thể kiến tạo được chính họ và thế giới xung quanh. Lời của Mẹ, không những chỉ là những cảm xúc trong trái tim ngọt ngào vị yêu thương mà đôi khi tựa như những bài học khô khan đầy triết lý. Nhưng có dù khô khan hay ướt át thế nào chăng nữa, lời của Mẹ vẫn tựa như lời ru từ thuở nằm nôi mà con hằng mong muốn được nghe, mặc dầu những lời ấy lắm lúc không thể hiểu được, vì con chưa được bước qua những chặng đường như thế.
----------------
MẸ ĐÃ RA ĐI
Mẹ tôi đã thật sự ra đi!!!
Tôi vẫn biết rồi ai cũng phải chết, nhưng sao vẫn đớn đau vô ngần. Có ai biết được tâm trạng của những người con mất Mẹ. Tôi cố nén lòng mình, nhưng nỗi đau vẫn tuôn trào biến thành những giọt nước mắt. Những giọt nước mắt ấy dù đi ra hay chảy ngược vào trong tâm khảm,vẫn không có nghĩa lý gì vì không thể nào khỏa lấp được nỗi bơ vơ cùng tận.
Vẫn biết trước rồi một ngày nào đó, mình sẽ cô đơn và thật sự heo hút khi mất Mẹ, thế mà vẫn níu kéo, vẫn than vãn lững lờ như những tầng mây man dại.
Không biết bây giờ Mẹ đang ở đâu nhỉ! Ở thế giới bên kia hay ở ngay bên cạnh mình. Một câu hỏi cất lên tưởng như tiếng nói của Đức Mục-Kiền-Liên ngày trước. Nhưng tôi lại khác! Tôi không có diễm phúc để gặp được hội chúng Thánh Tăng và Đức Phật hổ trợ dẫn đường, tôi là một kẻ phàm phu. Do vậy, tôi vẫn tìm kiếm dù bất cứ Mẹ đang ở đâu, tôi đã dõi theo con đường mà người xưa đã từng bước.
Tình Mẹ nói sao cho hết. Mẹ đã sống trọn đời vì các con yêu của Mẹ, vì những đứa con khờ dại nhất. Chúng chưa từng khôn lớn, trưởng thành trong vòng tay của Mẹ, thế mà Mẹ vẫn cười, vẫn hừng sáng, như ánh trăng tỏa sáng êm đềm giữa màn đêm bao la. Mẹ vẫn vui tươi như cành dương luôn rũ xuống trần thế, và luôn hạnh phúc bên đàn con trẻ.
Ngày Mẹ đưa con vào chùa, cũng là ngày con lạy tạ từ Mẹ để ra đi. Xin Mẹ tha thứ cho! Con đã bỏ mẹ đi theo một con đường, con đường ấy cao hơn xa hơn và hạnh phúc hơn theo nhận thức của chính con.
Ngày ấy con lạy Mẹ! Đó cũng là ngày mà con đã qùy dưới chân Đức Phật thề nguyện với chính mình: “Con sẽ tạo niềm hạnh phúc cho riêng Mẹ”.
Mẹ đã khóc! Phải chăng Mẹ đã khóc vì con? Khóc cho đứa con thơ dại đã bỏ Mẹ đi tìm đường và chấp nhận sống đời tu sĩ không nhà, thực hiện nếp sống giản đơn. Tại sao Mẹ vẫn vui? Dòng nước mắt của Mẹ là dòng nước mắt hạnh phúc nhất, nhưng vẫn chứa đựng nỗi xót xa.
Con vô tư giỡn chơi xung quanh Đức Phật. Ngày ngày mẹ thấy vui, niềm vui cứ thế mà dâng trào. Con không hiểu sao Mẹ lại vui khi con sống xa Mẹ, sống bơ vơ giữa chốn rừng hoang dã, giữa những âm thanh chỉ là lời kinh và tiếng mõ vang hồi trong những đêm đông lạnh buốt. Phải chăng Mẹ đã nhận ra giá trị của những cánh đồng hoang mà chính Mẹ là người đã gieo nhân và không mong chờ một mùa gặt sắp đến? Hay là Mẹ hằng mong mõi, sự yên tỉnh độc cư tạo nên những vĩ nhân trần thế? Nếu quả là vậy thì Mẹ ơi, con vẫn chưa thể là một người con Hiếu vì vẫn chưa thể thỏa lòng mong đợi của Người!
Mỗi lần gặp Mẹ, con thẹn thùng và thèm khát được ngồi trong lòng của Mẹ, thế mà chỉ mới cái vuốt ve đầu tiên trên chiếc chỏm tóc thưa thớt của con, nước mắt Mẹ đã rơi. Thấy vậy con chạy trốn để Mẹ đừng khóc nữa.
Cuộc đời con gian truân! Đã nhiều lần con cố dấu Mẹ, nhưng nào có dấu được đâu! Bởi vì trong tâm tư của Mẹ, hình ảnh con vẫn mãi hiện hữu. Mẹ sống giữa đời để cho con. Mẹ sống lam lũ, Mẹ nhẫn nại, chịu đựng tất cả cho con mau khôn lớn thành người.
Nhưng tuổi thơ của con sống như gió bay giữa bầu trời lơ lững, con chỉ nhớ Mẹ, khi tâm hồn con bị cấu xé, nát tan- Lạy Mẹ, hãy tha thứ cho con.
Có những đêm con nằm trên một chiếc giường to. Chiếc giường đó gợi lại tâm trí của con ngày nào đó được nằm bên Mẹ, thật ấm áp vô cùng. Thế mà bây giờ con lạnh buốt! Nhưng con lại không muốn bỏ nó đi, để chạy về nhà thoáng nhìn thấy Mẹ đứng ở đầu đường, sức mạnh nào đó đã vô hình cuốn lấy con. Phải chăng niềm tin của Mẹ và đó cũng chính là hoài bảo của Mẹ, đã gởi gắm những chất liệu khó phai nhòa trong trái tim non trẻ của con.
Mẹ đã lạy với trời đất rằng: Sinh con ra nhưng mẹ đã hiến dâng lên Đức Phật, và cho con làm đệ tử của Ngài. Một sự dâng hiến cao cả, vô bờ bến. Sự dâng hiến đó đòi hỏi cả cuộc đời hy sinh của Mẹ.
Đức Phật cao xa đã chứng giám cho Mẹ chúng con. Người đã dâng hiến lên Ngài những gì Người đã yêu thương nhất. Giờ này nó không còn ở bên người sinh ra nó nữa, nó đã theo ly tưởng của Ngài
Con mỗi ngày lại càng đi xa, xa theo chiều con lớn. Con đi mãi, đi mãi trên đoạn đường cô lữ, phố thị viễn phương. Đôi mắt ướt của con mỗi ngày mỗi sáng lên, cô động lại thì thân con lại xa Mẹ. Mẹ đã già đi theo năm tháng, nhưng con vẫn chưa có cơ hội để có lời an ủi bên Mẹ tuổi già, như con đã làm và đã từng khuyên nhủ, sẽ chia bao nhiều người bằng tuổi mẹ.
Những ngày xa Mẹ, nếu có ai đó nhắc về con, thế là hai dòng nước mắt của Mẹ tuôn trào. Con biết những dòng nước mắt ấy chứa đựng biết bao tâm can của Mẹ. Nó chưa hẳn là những dòng nước mắt của khổ đau hay hạnh phúc, nhưng đó chỉ là tâm trạng muốn gặp được con, Mẹ đã trông chờ con trong từng giây phút. Cửa Thiền khép kín quá phải không Mẹ? Không!
Thóang một chiếc áo vàng phất phơ cuối ngõ, hình bóng của một vị Sư đi ngang qua mắt của Mẹ. Mẹ cảm động, niềm vui đột ngột dâng trào, tựa như là con của Mẹ đã về đây.
Bao nhiêu thị phi ngang trái của cuộc đời khi họ bàn luận về con đã đến tai của Mẹ. Họ nói về con ư, Mẹ nở nụ cười hoan hỷ nhất để trả lời thị phi đó. Chỉ tâm niệm một đời mong con mau lớn, ở bên đức Phật, với Mẹ là đủ rồi.
Có những tháng ngày con lây lất giữa chợ đời tấp nập, đời thổi con bay, Mẹ khóc - Mẹ đau khổ! Mẹ đã đánh đổi toàn bộ tâm trí, Mẹ điên dại, lây lất giữa đoạn đường còn lại. Mặc tình cho người thương hại, cho kẻ chê bai, Mẹ sẳn sàng hy sinh tất cả _ chỉ vì những đứa con mà Me đã cưu mang.
Cuộc đời đã nhiều lần đẩy con Mẹ đi xa. Các con của Mẹ đôi lúc lẫn vào dòng xóay bụi bậm của cuộc đời và bỏ quên Mẹ – Mãi đến giờ này chúng con đã tỉnh giấc mộng tang bồng chưa vậy Mẹ? Và có sự đau khổ nào sánh với nỗi đau khi Mẹ đã qua đời? Cuộc đời của chúng con còn quá dài, nhưng chúng con tin chắc rằng không có nỗi đau nào lớn nhất bằng nỗi đau mất Mẹ.
Mẹ đã đi rồi!!!
Kỳ Viên - Nha Trang 16/4 Bính Tý.
-------------------------
NỖI LO CỦA CHA
Hình ảnh đàn gà con chạy quanh quẩn, ngơ ngác kêu la thất thanh một khi lạc bầy, mất mẹ; trong chúng ta ai cũng từng thấy và cảm nhận trong đời sống thường ngày. Điều này, đã chứng minh hùng hồn rằng tình thương yêu phụ mẫu tử không chỉ thể hiện sâu sắc trong phạm vi loài người.
Ngày Mẹ mất - anh em chúng tôi cũng thế, ngơ ngác sợ hãi vì biết rằng nỗi cô đơn bắt đầu ập đến với mình, biết rằng từ đây mình sẽ vĩnh biệt Mẹ và sẽ không bao giờ gặp lại Mẹ ở dương trần này. Sợ hãi, âu lo rằng từ giờ phút này mình sẽ không còn bàn tay ấm nóng của Mẹ ôm ấp vỗ về. Lo lắng vì từ đây sẽ không còn bước chân của Mẹ đi cùng chúng con theo năm tháng quạnh hiu giữa cuộc đời. Tựa như đàn gà con lạc mẹ, kêu la thất thanh, đứa lớn chạy vòng lớn, đứa nhỏ chạy vòng nhỏ. Cái đau của con người hơn con vật bởi vì con người có trái tim và lý trí. Suy nghĩ miên man, tất cả chúng con ngồi vòng quanh bên thân xác lạnh cứng của Mẹ, tưởng chừng có cơ hội níu kéo lại Mẹ mình, nhưng thật sự Mẹ đã ra đi vĩnh viễn. Cha cũng thế, lúc này Cha không còn như chú gà trống, đã từng là nơi nương tựa vững cho gia đình như ngày nào. Cha cũng thất kinh như các con, hồn vía bay lạc, bởi lẽ quỷ vô thường đã cướp đi người vợ yêu quý của mình.
Nhưng nỗi lo của Cha thì khác, Cha không khóc, không cười, không lay động, bao phủ con người cha là một nỗi im lặng kỳ lạ, bình tĩnh đến lạnh lùng suốt mấy ngày liền trong đám tang của Mẹ. Lúc này nhìn Cha khó có thể diễn tả được cha đang suy nghĩ gì vì tâm trí của Cha không như thường lệ mọi ngày. Cha lo chu tất đám tang của Mẹ, Cha lo cho cả số phận của mình với những ngày còn lại.
Mẹ ra đi thật nhẹ nhàng, đám tang của Mẹ thật chu toàn, đông đảo người đến đưa tiễn, quí Thầy thương mến Mẹ cũng đến hộ niệm, chật cả một khu phố. Những người quen biết của Mẹ đều đến để chia tay vĩnh biệt, nói với vong hồn của Mẹ lần cuối. Trong cõi hư vô, bên kia bờ cõi sống, chắc Mẹ hạnh phúc và nhẹ nhàng lắm - hương hồn của Mẹ đã thỏa mãn, vì Mẹ biết được rằng hành động, việc làm của Mẹ khi còn sống sẽ dẫn đến kết quả cho một đời người.
Cha nghe mọi người nói thế, đi đâu Cha cũng nghe mọi người khen ngợi, ca tụng về đám tang của vợ mình. Nào bà ta có phước, có tu, nên sống cũng như chết được nhiều người thương mến. Và cũng từ đó, nỗi lo lắng của Cha đã dần dà thành hình. Cha đã suy tư trong từng ngày, cho đến hôm nay vẫn đang còn lo lắng: không biết Cha chết đi có nhẹ nhàng như Mẹ của chúng con không vậy, đám tan có chu toàn, bà con xa xóm giềng gần có đến tiễn đưa Cha hay không? Cha tự hỏi mình, và rồi một phần Cha hỏi con. Cha nói với con điều trăn trở đó như lời nhắn nhủ, ước nguyện cuối cuộc đời. Hãy lo đám tang của Cha như các con đã lo cho Mẹ, được như vậy, cha sẽ sung sướng và thỏa nguyện lắm, cao quý nhất không gì so sánh bằng. Có quý Thầy tới tụng kinh, có nhiều đạo hữu tới hộ niệm, có nhiều bông hoa của thân quyến đến điếu niệm, và đặc biệt nhẹ nhàng trong tiếng khóc, âm vang tiếng mõ chuông. Thế thì rõ đây là nỗi lo lớn của Cha trong chặng cuối cuộc đời.
Người con bảo rằng: Cha ơi - Không phải ai muốn cũng được đâu, chúng con có muốn cũng không được. Việc này đòi hỏi Cha phải có nhân duyên lớn, có nhân quả vun bồi công đức nhiều lắm. Mẹ chúng con được như thế, vì khi sinh tiền, Mẹ con đi chùa rất nhiều, tạo phước cũng nhiều, và phần lớn là gần gủi với Tam Bảo, với đạo hữu, với thiện tri thức tu hành, cho nên Mẹ con được hưởng phước duyên như thế. Bây giờ Cha muốn được như vậy thì Cha phải biết ăn chay niệm Phật, biết bỏ ác làm lành, biết tạo nhân duyên với Tam Bảo, và phải biết tu tập mỗi ngày thì chắc chắn Cha sẽ được như Mẹ, khỏi phải suy nghĩ phiền lòng, lo lắng xa xôi vì đây là sự thật. sự thật mà ai cũng thấy, cũng có thể làm được. Nhưng muốn thành tựu ước nguyện như vậy thì cần phải hành động, thực tập, gắng công mỗi ngày đó Cha ạ. Ngược lại, chỉ là ước vọng, mong muốn thì không thể hội đủ nhân duyên, thiện duyên thì tâm nguyện của Cha sẽ không bao giờ đến thật. Dù rằng, các con của Cha có tiền của, danh vọng, vẫn không thể thực hiện được, vì nhân duyên của Cha không có. Vì chuyện phước duyên của một đời người thì bao giớ cũng vượt ra ngoài suy nghĩ tầm thường: có tiền sẽ làm được tất cả!
Các con nói thế, Cha im lặng trong hân hoan, Cha biết rằng các con nói đúng. Vì ngay cuộc sống, hình ảnh của Mẹ mỗi ngày là bài học thực tế nhất mà Cha hằng cảm nhận. Thế mới biết, nhân duyên - nhân quả giữa cuộc đời là một sự thật tuyệt đối, chúng ta sống cần phải biết, cần phải nhận thức rõ để làm sao sống xứg đáng trong cuộc đời. Nhưng từ việc biết nhân quả và có lưu tâm đến nhân quả hay không là một vấn đề đáng nói.
Người con có hiếu, mang tiền của vật chất để lo lắng nuôi dưỡng cha mẹ khi hiện tiền, đủ cơm ăn áo mặc, để an tâm tuổi già là điều cần thiết, nhưng thực tế là chưa đủ, vì điều quan thiết là cần phải giúp đỡ cha mẹ có tánh linh sáng suốt một khi chia tay với cõi đời này. Thế mới biết, người con chí hiếu là người con biết cung phụng vật chất khi cha mẹ hiện tiền, và hướng Cha Mẹ đến với Tam Bảo, với điều thiện xa điều ác; để có cuộc sống thật bình thản, không lo âu, không bôn ba, và không bị vật lộn với hoài niệm, với những luyến tiếc của cải đã qua, sẵn sàng đối diện với cái chết đang kề cận mình, để có được tánh linh an ổn khi ra đi. Đây là một trong nhiều cách thể hiện tinh thần Báo ân - Báo hiếu của đạo Phật.
**
*
Ngày hôm nay, nỗi lo của Cha không còn nữa, vì Cha biết phải làm thế nào để được kết quả như mình mong muốn.
------------------------
PHÁT BỒ-ĐỀ TÂM, SUỐI NGUỒN CỦA BÁO HIẾU
Khi nghĩ về công ơn sanh thành dưỡng dục, thì chúng ta đã tạo nên một mạch nguồn của ân đức, của nghĩa trọng tình sâu, của dòng tâm thức luân lưu bất diệt. Một suối nguồn của thơ ca, của tiếng nhạc trầm hùng, lúc sâu lắng lúc thì nhẹ nhàng đi vào nhân thế vừa bất hủ vừa rung động thức tỉnh. Thế mới biết, giấy mực trần gian chẳng viết lên nỗi hai chữ “Mẹ ơi” cho trọn vẹn.
Báo hiếu cũng vậy! Báo hiếu là suối nguồn vĩ đại. Bởi lẽ báo hiếu không chỉ trong phạm vi nhớ ơn và biết ơn đến Ông Bà - Cha Mẹ, mà còn phải biết và nhớ ơn cao trọng tình Thầy trò, Tổ quốc, ơn những đồng loại, cộng đồng. Khi nói đến báo hiếu thì ý nghĩa thật sự rộng lớn, nhưng bao quát lại chíh là nỗ lực hồi báo tứ ân: Ơn Tam bảo, ơn Sư trưởng, ơn Cha mẹ và cuối cùng là công ơn của Đàn việt - Chúng sanh.
Để làm được việc này, chúng ta không những thể hiện những hành động đơn thuần trong phạm vi hiếu đễ theo ý nghĩa thường tình; mà phải lập nguyện thiết tha, phát Bồ-đề tâm dõng mãnh. Khi đã phát Bồ-đề tâm, thì việc tri ân và báo ân mới đầy đủ ý nghĩa của nó.
Phát Bồ-đề tâm chính là lập chí nguyện mong cầu quả vị vô thượng Bồ-đề. Đây là ý nghĩa đầu tiên và quan trọng nhất của người học Phật. Bởi lẽ, Bồ-đề tâm là căn bản của Bồ-tát giới. Phát Bồ-đề tâm là khơi dậy toàn bộ bước đi của tâm thức, là ý niệm chân chánh của muôn vàn sự nhận thức, là sự thành tựu của tất cả muôn hạnh lành, cho đến con đường Phật quả cũng không ngoài việc bắt đầu là phải phát khởi Bồ-đề tâm.
Trong bài văn khuyến Phát Tâm Bồ Đề, chúng ta thấy rằng ngài Thật Hiền đã không có một khoảnh khắc nào lãng quên đến đại sự sống chết. Trong sự vô thường mong manh của kiếp người mà ngài đã không quên khuyến khích tất cả người con Phật, phải phát tâm và lập nguyện: Nguyện lập thì chúng sanh độ nỗi, tâm phát thì Phật đạo mới thành được.((1) Trí Quang dịch, Bài văn khuyến khích Phát Tâm Bồ Đề. 2541-1997. Thích Phước Bổn ấn tống.1) Tri ân cũng phải khởi phát tâm và Báo ân cũng phải lập nguyện: “Nếu quên mất tâm Bồ-đề mà tu hành các thiện pháp, thì gọi là hành động theo ma vương” ((2) Kinh Hoa Nghiêm2). Tri ân và báo ân cũng là những lý do để phát khởi tâm Bồ-đề làm các việc lành. Và cũng thế, tâm Bồ-đề là suối nguồn của sự báo hiếu.
Không có nỗi khổ nào lớn nào bằng nỗi khổ cứ thăng trầm mãi trong luân hồi sinh tử, nỗi khổ của kẻ ngu si gây ra biết bao tội lỗi, nỗi khổ của con lừa chở nặng giữa sa mạc cháy nắng cũng không bằng nỗi khổ lên xuống sáu nẽo ba đường. Đức Phật đã thấy như thế, Ngài đã thương xót tạo nhiều phương tiện để giáo hóa, mở nhiều cánh cữa để chúng ta gieo trồng thiện căn, trong lúc chúng ta còn đọa đày đâu đó trong chốn u đồ cho đến khi có được thân người. Không giây nào phút nào Đức Phật tạm thời rời bỏ chúng sanh , để chúng ta hành động sai trái quay về với nẽo ác.
Sở dĩ hôm nay chúng ta có được thân người, lại gặp được Phật pháp, biết được giá trị của thiện căn đã gieo trồng từ trước nên nay lại sinh ra gặp được Phật pháp, và đâu là ác quả nếu bướng làm thì sẽ nhận lãnh quả xấu trong tương lai. Tất cả những hiểu biết ấy mà chúng ta hôm nay có được, không phải từ ân đức của đức Phật thì ở đâu ra? Nghĩ như thế, mới biết rằng chúng ta thọ hưởng ân đức của chư Phật thậm thâm vô lượng, núi non sông biển không thể sánh bằng và chúng ta chỉ còn một con đường: phải nỗ lực báo đáp. Cách báo đáp duy nhất, có ý nghĩa cao cả, chân chánh, là phải phát tâm Bồ-đề, lập hạnh Bồ-tát để cứu độ chúng sanh, gìn giữ Phật pháp trường tồn mang lợi lạc đến cho mọi loài, như đức Phật đã từng làm trải qua vô lượng kiếp. Phát tâm như thế chính là cửa ngõ của sự tri ân và báo ân Tam Bảo của người con Phật.
Sự cực nhọc của mười tháng cưu mang, ba năm bú mớm, nhường khô nằm ướt, nuốt đắng nhả ngọt, tranh đấu trong từng giây phút để con được trưởng thành, khôn lớn; là một quá trình vật lộn lâu dài không từng ngưng nghĩ, là sự kết tinh của tất cả tâm huyết từ Cha mẹ đối với con thơ. Để làm gì?
Chỉ thầm ước vọng làm sao con thành người đúng với nghĩa của nó, hy vọng con cái đủ khả năng thừa kế được gia phong, làm rạng danh tiên tộc trong ý nghĩa đời thường. Thế mà trong chúng ta, vẫn có người không nhận thức được công ơn sâu dày ấy. Khi Cha mẹ còn sống thì không có ngày cung phụng hầu hạ, cơm nước đỡ đần, chết thì quên ngày, cúng tế chạp kỵ không chu toàn. Khi Cha mẹ còn sanh tiền thì chúng ta không có khả năng nuôi dưỡng, lúc chết thì chúng ta bất lực trong việc trợ lực nghiệp thức. Đối với cha mẹ, đường nào cũng thiếu sót, suy nghĩ như vậy mới thấy chúng ta tội lỗi vô biên, bất hiếu trầm trọng. Cần phải tỉnh thức phát tâm rộng lớn, luôn luôn nhớ nghĩ đến công ơn đó và nỗ lực thực hành Phật đạo mới hầu mong tri ân và báo ân nghĩa nặng của Cha mẹ.
Như vậy, chỉ có phát tâm rộng lớn tu hành, khắp độ chúng sanh trong trăm đời nghìn kiếp, lúc ấy chúng ta mới dám nghĩ đến công ơn sanh thành dưỡng dục và con đường của báo hiếu chân chánh. Có phát tâm như vậy thì không những chúng ta báo ân được Cha mẹ trong một đời mà Cha mẹ trong nhiều đời cũng đầy đủ lợi lạc, đều được siêu thăng. Phát tâm như vậy, chính là khơi nguồn của tấm lòng tri ân và báo ân đến Cha mẹ của người con Phật.
Cha mẹ cho chúng ta tấm thân, những vị Thầy tôn kính, bậc Sư trưởng cho chúng ta cái chữ nếu là ở đời. Đối với đạo, bậc Sư trưởng chính là người cho chúng ta giới thân huệ mạng để vững bước đi trên con đường đạo thênh thang và cũng lắm chông gai. Chúng ta sở dĩ biết lễ nghĩa với Cha mẹ, tôn kính đến bậc trưởng thượng, hòa ái với mọi người chính là được sự giáo dưỡng của Thầy và các bậc Sư trưởng. Nếu chúng ta sống ở đời mà không biết lễ nghĩa, không dùng lễ nghĩa để làm khuôn phép trong giao tiếp thì có khác gì loài cầm thú. Lễ giáo ở đời, kiến thức trong Phật pháp không hiểu thì chẳng khác gì những hạng tục tử, phàm phu. Hôm nay, chúng ta có được sự trang sức của lễ nghĩa trong giao tiếp, phép tắc trong hành xữ, ân đức ấy chính là tấm lòng tha thiết, ước vọng của Thầy, Tổ, Sư trưởng trao truyền. Như vậy, chẳng vì lợi ích của bản thân, mà phải phát khởi Bồ-đề tâm, làm lợi lạc hết thảy chúng sanh, trong đó không những Thầy ở thế gian, mà Sư trưởng xuất thế đều được lợi ích. Phát tâm như vậy, chính là cội nguồn của tri ân và báo ân đến Thầy, Tổ, Sư trưởng của người con Phật.
Thế giới chúng ta đang sống là một sự kết hợp hài hòa giữa cái này và cái khác, giữa cái thiện và cái ác, nếu không có cây cỏ, đất nước, ánh sáng thì bầu trời này sẽ thiếu sự thăng bằng, con người sẽ sống trong sự khập khễnh, bệnh tật và buồn chán. Sự sống này sẽ vô nghĩa biết bao nếu thiếu tiếng chim hót lúc ban mai, thiếu hoa cỏ giữa mùa xuân, thiếu tiếng kêu róc rách của mạch nước từ hang đá lạnh trong đêm khuya, thiếu tiếng ào ạt liên tục của dòng thác tạo thành bản nhạc rừng vĩ đại.
Con người sẽ không phải là con người toàn diện khi thiếu đồng loại của mình, mỗi ý tưởng cá nhân là một sự hưng khởi cho dòng tâm thức cộng đồng được luân lưu. Xung quanh con người nếu không có bằng hữu thì con người sẽ sống trong cô độc, tẻ nhạt và thiếu vắng tất cả những thứ ấy thì tâm thức con người sẽ héo mòn mỗi ngày, rồi sẽ trở thành trơ trọi, mất sức sống.
Thế giới chúng ta đang sống là một thế giới của sự tương tức tương nhập, trùng trùng duyên khởi, thế giới của cái này có thì cái kia có, và cái này không thì cái kia cũng không. Thế giới chúng ta đang sống là thế giới như một sự vay trả nhiều đời. Chính tấm thân của chúng ta cũng là một sự vay mượn, tâm thức của chúng ta là một dòng luân lưu ý thức từ nhiều người khác nhau, của ngoại cảnh và nội giới. Suy nghĩ và hiểu được sâu sắc như vậy, chúng ta mới biết được rằng hiện tại ta và chúng sanh có thể đã chung nhà, có thể đã từng liệ hệ với nhau như cha với con, vợ chồng, anh chị trong quá khứ và khác nhau trong hiện tại, tất cả đều nằm trong một thể bình đẳng nhân quả nghìn đời.
Như vậy, khi tất cả là một thể bình đẳng thì chúng ta không thể không nghĩ đến nỗi thống khổ của người khác mà không cân nhắc trong hành động; để không làm hại người và hại mình, suy nghĩ sâu sắc như vậy là chúng ta đã biết được cách phát tâm rộng lớn để tri ân và báo ân giữa người và người, giữa người và môi trường xung quanh; tạo nên một thế giới loài người sống có hòa ái. Phát tâm như vậy, chính là khơi nguồn của lòng tri ân và báo ân đến với đàn việt và chúng sanh.
Bên cạnh nỗ lực tri ân và báo ân rộng lớn được tóm tắt trong tứ trọng ân, khi phát tâm và lập nguyện như vậy thì chúng ta đã biết sống trong đạo lý làm người, và thấy con đường thoát khổ. Khi biết được sự tri ân và báo ân dựa trên căn bản phát tâm Bồ-đề. chính là chúng ta đã tôn trọng nhân cách toàn diện của kẻ khác và cũng chính là tôn trọng tánh linh của chúng ta và của mỗi con người.
Khi phát tâm rộng lớn để báo ân thì chính chúng ta đã làm cho bản thân trở nên hoàn thiện, bởi lẽ không có điều ác nào ác hơn tội bất hiếu, không có điều thiện nào thiện hơn là hiếu thảo. Suy nghĩ như vậy chính là sự hoàn thiện bản thân, là biết hỗ thẹn với những hành động sai trái của mình mà sám hối vậy.
Phát tâm Bồ-đề rộng lớn để tri ân và báo ân chính là bước đi của ý thức vô ngã và muốn khẳng định rằng, tâm thức của chúng ta thư thái, tự do và không sống trong sự lừa đảo, giả dối; không bị vướng kẹt bởi bên này và bên kia, cũng không có khiếm khuyết. Sự hoàn hảo trong tâm thức chính là dấu hiệu của an lạc và giải thoát, nếu chúng ta biết gìn giữ và biết phát tâm dõng mãnh để phát triển trạng thái tâm ấy thì cõi Tịnh độ đâu có xa, Niết bàn đã ngay trần thế.
Phát tâm và lập nguyện như vậy, để báo hiếu, để tri ân và báo ân, để đền ơn, đáp trả không phải là sự phát tâm một chiều, và như vậy không phải là tà phát tâm. Tuy nhiên, sự tri ân và báo ân không phải là việc dễ làm, có đôi lúc hiểu nhưng đã không làm, và có khi làm nhưng không hiểu, cũng không phải là việc nhỏ, không phải là việc làm chỉ trong một đời người. Tuy nhiên, chúng ta phát tâm rộng lớn dám làm và dám nghĩ trong chuyên cần, nhớ nghĩa trong nhiều đời nhiều kiếp, như vậy đâu phải là tiểu phát tâm. Từ sự tri ân và báo ân mà nghĩ đến nỗi thống khổ sinh tử, phát khởi lòng cầu đạo Bồ-đề để làm lợi lạc cho tất cả chúng sanh, phát tâm như vậy đâu phải là ngụy phát tâm báo hiếu? Suy nghĩ đến tri ân và báo ân mà phát khởi tâm Bồ-đề đối với chúng sanh mà thấy tự tánh là chúng sanh nên nguyện độ thoát, đối với tự tánh Phật đạo nên nguyện thành tựu, từ tấm thân này mà thấy là Phật thân. Phật thân là pháp thân tròn đầy thường hằng, chính là ý nghĩa phát tâm viên mãn.
Phát tâm và lập nguyện như vậy chính là căn bản của phát Bồ-đề tâm của Bồ-tát đạo, là suối nguồn của báo hiếu. Đây cũng chính là ý nghĩa báo hiếu đầu tiên và quan trọng của người con Phật.
------------------------
HIẾU NIỆM: KHÔNG GIẾT HẠI CHÚNG SANH
Với cái nhìn tuệ giác, Đức Phật quán chiếu trong vòng nghiệp duyên của chúng sanh, Ngài đã thấy được không có một chúng sanh nào tồn tại độc lập, mà ngược lại lưu chuyển trong vòng tương duyên với nhau. Tất cả vì vô minh, mà chúng sanh không thấy được Ngài. Trong kinh Báo Phụ Mẫu Ân diễn tả, có lần Đức Phật đi trên đường và thấy bên lề đường một đống xương khô, Ngài đã lễ lạy đống xương ấy. Hành động của Ngài đã khiến cho các vị Tỳ-kheo đệ tử đi theo sau hết sức ngạc nhiền và bạch hỏi được Ngài trả lời như sau: “Ta đã thấy trong vô lượng kiếp sống, có những đời chúng sanh đã từng làm cha mẹ con cái lẫn nhau, những đời khác làm anh em, quyến thuộc và cũng có những đời sống là kẻ thù”. Như vậy trong đống xương tàn này đã có hình sắc của phụ mẫu chúng ta trong nhiều đời. Chúng ta cần phải thương tưởng và luôn luôn kính trọng, lễ lạy. Trong Kinh Bồ-tát Giới dạy rằng: “Tất cả lục đạo chúng sanh đều là họ hàng ta, cha mẹ ta đã chết đi sống lại trong nhiều đời, nhiều kiếp”.
Với cái nhìn sâu sắc ấy, Đức Phật đã long trọng tuyên bố cho các đệ tử của Ngài, và trong nội dung những lời răn cấm căn bản của Người con Phật là năm giới cấm. Giới cấm thứ nhất là không nên giết hại chúng sanh.
Đứng ở góc độ xã hội chúng ta thấy rằng, không giết hại chúng sanh là lời khuyên đầy tính nhân văn và bình đẳng. Bởi lẽ, quyền được sống và được sống hạnh phúc thuộc những quyền căn bản, bất khả xâm phạm trong thế giới văn minh. Ai cũng muốn sống và khao khác được sống. Sự sống của con người cần phải được tôn trọng và bảo vệ. Giả sử trong một quốc gia, nếu con người sống với nhau và đối xử với nhau bằng bạo lực, mạnh lấn yếu, giàu hiếp nghèo, người có quyền lực lấn áp kẻ thấp cổ nhỏ họng, không có sự tương thân tương trợ lẫn nhau thì xã hội ấy chẳng phải là xã hội của loài người, chưa nói đến một xã hội tiến bộ. Một xã hội tiến bộ là một xã hội biết tôn trọng với nhau và phải biết hỗ trợ lẫn nhau. Vì chúng ta cần phải biết rằng, sự phát triển toàn diện của một cá thể, hoặc gia đình, dẫn đến một xã hội rộng lớn đều cần có mặt của tất cả những thành viên hiện hữu trong xã hội ấy. Bởi lẽ, tất cả đều có sự liê hệ, tương hệ lẫn nhau.
Không giết hại chúng sanh, đứng ở góc độ bình đẳng trong tâm thức tôn giáo mà xét, Đức Phật đã trịnh trọng tuyên bố: “Ta là Phật đã thành các con là Phật sẽ thành” hoặc “Trước Đức Phật đã có vô lượng Đức Phật đã thành”. Cái nhìn của Đức Phật về bình đẳng trong mối tương quan này dựa trên nền tảng bản thể để xem xét; nên không có cao hạ, ngược lại khảo sát trên phương diện nghiệp lực thì có cao thấp và trắng đen rõ rệt. Xét đến tận cùng nghiệp lực của chúng sanh trong sáu nẽo luân hồi, Đức Phật đã thấy chúng sanh lên xuống thường xuyên trong các cõi, lúc thì mang thân trâu bò chở nặng, lúc thì trong tâm thức có thần thánh, lúc khác mang thân người và cũng có lúc đã rên la trong chốn u đồ. Tất cả đều do sai biệt của nghiệp thức tạo tác, trong quá khứ hay trong hiện tại mà phải nhận lãnh nghiệp quả như thế.
“Không giết hại chúng sanh” lời dạy được lưu xuất từ lòng từ bi sâu thẳm của Đức Phật. Ngài đã quán thấy trong tất cả chúng ta, dù mang trong người một địa vị cao sang hay thấp hèn nào chăng nữa, cũng đều có ân tình với nhau. Không ở nơi này thì cũng ở nơi khác, không trong thế giới này thì cũng ở thế giới khác, không trong thời điểm này thì cũng ở thời điểm khác. Tất cả đều có vay mượn với nhau, nếu không có vay mượn, nhân duyên với nhau thì hôm nay chúng ta sẽ không cộng trụ để sinh tồn và tạo thành một thế giới đầy nghiệp lực. Trong thế giới này, hạnh phúc và đau khổ luôn luôn tương phùng, thiện ác luôn đáo đầu, oán tắng lại gặp nhau, thương yêu lại xa cách, đầy bệnh tật, già nua và chết chóc, để tiếp tục vay trả. Thấy được như thế, Đức Phật khuyên chúng ta không nên tiếp tục vay tra bằng cách làm hại lẫn nhau.
Không giết hại chúng sanh, trên tinh thần hiếu niệm là chúng ta cần phải thấy biết sâu sắc trên căn bản của lòng từ bi vô hạn. Ai cũng có nỗi khổ và ai cũng từ những nỗi khổ mà sanh biến, dù hiện đang mang tấm thân nào chăng nữa, cõi nước nào chăng nữa thì không nên giết và không nên bảo người giết, hoặc tham gia giết bằng cách này cách khác, cho đến côn trùng cỏ cây, môi trường sống cũng không nên giết hại, tàn phá. Bởi lẽ tàn phá môi trường xung quanh chính là tàn phá đời sống của mình, giết hại chúng sanh thì sẽ bị chúng sanh báo trả theo định luật nhân quả ngàn thu tồn tại và chi phối đời sống của loài người.
Hiếu niệm đứng ở góc độ khác chính là sự báo ân và tri ân của người con Phật trong sự hiểu biết nhân duyên nhân quả bao phủ trong nhiều thời gian đã qua. Con người sống được nuôi dưỡng, phát triển trong ân tình thì cũng được kết nối bởi sợi dây ân tình, một niềm kính trọng trong báo ân và tri ân.
-------------------------
NHÂN MÙA VU LAN ĐỌC VĂN PHÁT BỒ ĐỀ TÂM CỦA ĐẠI SƯ TỈNH AM
Giáo pháp của đạo Phật sâu thẳm được ví như đại dương mênh mông. Cửa vào đạo có muôn ngàn lối, hành giả khi bước vào nếu không trang bị đức tin vững vàng chắc sẽ choáng ngợp bởi sự uyên áo, sâu kín và pháp mầu vi diệu. Nếu thế thì con đường vào đạo của chúng ta thì sao, những người đầy nghiệp lực và hệ lụy của tham ái?
Đạo pháp được xem là vô tận và cao thâm là khi hành giả chưa tìm thấy được chìa khóa mở tung cửa ngõ để bước vào. Khi nắm bắt được chìa khóa rồi thì con đường đạo đối với chúng ta sẽ không còn bở ngỡ như đi trong rừng già kiến thức, mà chỉ còn lại hoa trái của sự thực hành. Vào được rồi chúng ta lại không biết ngõ đi, tựa như kẻ lang thang lạ lẫm trong vườn hoa đầy hương sắc dịu mát lòng người, mà tưởng chừng như trong phố thị tối tăm đầy dẫy kiến luận. Chìa khóa để chúng ta có thể tận hưởng trọn vẹn hương vị của loài hương bay ngược gió ắt phải trang bị, đó chính là phát tâm và lập nguyện.
Phát tâm và Lập nguyện như đôi cánh chim giúp chúng ta bay cao và bay xa, đủ khả năng cảm nhận một thế giới với chất liệu tịch tịnh bên cạnh một thế giới khác đầy dẫy sự xáo trộn, nghịch ý. Có phát tâm mới mong độ thoát mình và chúng sanh, có lập nguyện mới kham thành Phật đạo. Đó là yếu môn của người hành Bồ-tát hạnh. Nếu không phát tâm và lập nguyện khi bước vào đời hành đạo chúng ta tựa như người cất bước ra đi mà không có mục đích để dẫn đường cho lý tưởng, để rồi trôi nổi vô bờ bến, đau khổ, có đi nhưng không bao giờ đến, luống công vô ích. Đặc biệt hơn, người xuất gia khi bỏ nhà thế tục để dấn thân vào con đường đạo, mục đích là đạt giác ngộ và giải thoát song song với tâm nguyện cứu độ chúng sanh. Khi đã bước chân có mục đích cao vời thì chính là đã đặt chân vào khung trời cao vút, đòi hỏi chúng ta phải đủ bản lãnh để đối diện với sự lãnh đạm của bát phong và muôn vàn chông gai thử thách. Trọng yếu như thế, Kinh Hoa Nghiêm đã diễn tả những hành động này, như một cú đập phá những tâm thức chai lì và đang ngủ quên trong cái nhỏ nhoi của nghiệp thức, bằng lời cảnh giác: Quên mất tâm giác ngộ lại tu các pháp lành, thì đó là ma tu. Quên mất tâm giác ngộ để tu tập có tác hại lớn lao đến như thế, huống chi là kẻ chưa hề phát tâm, chẳng lập đại nguyện, đến với Đạo chúng ta như người có mắt mà không thấy, có đôi chân lại không được đi, có miệng nhưng lại chẳng nói được, ngọng nghịu, gào thét, than thân trách phận, tựa như cóc ngồi đáy giếng thèm trăng trên cao.
Vậy phải phát tâm thế nào? Tỉnh Am đại sư đã tóm lược tướng trạng của tâm trong muôn ngàn biểu hiện sai biệt, làm kim chỉ nam dẫn người vào đạo.
1/ Có người muốn tu hành, muốn đạt sự yên tĩnh nội tại của tâm, nhưng mặt khác cứ chạy theo sự quyến rũ bên ngoài, sống theo nghiệp lực, tiền trần, vẫy vùng trong thanh sắc, không kiềm chế những mong muốn thấp kém, không cố gắng phát triển nội lực của mình, không đoạn tận những uế trược, phiền não, lại bám víu những hạnh phúc mỏng manh bên ngoài. Và, quan trọng hơn nữa không lắng nghe điều hay lẽ phải để chuyển đổi nghiệp lực, mặc tình cho tội chướng tiêu khiên dẫn dắt; phát tâm tu hành như vậy gọi là Tà phát tâm.
2/ Không mong cầu lợi dưỡng, chẳng tham đắm dục lạc, nhận thức được vị ngọt và sự quyến rũ của các dục tựa như người cùi gãi ngứa, càng gãi càng lở lói, đau khổ. Biết thiểu dục tri túc, xem vật chất trong đời sống là cần thiết nhưng chẳng phải là thiết yếu, không vì vật chất mà khuynh đảo nhân cách, đạo đức của con người. Tâm tâm niệm niệm mong muốn tháo gỡ những ràng buộc của hệ lụy sinh tử, thường nuôi dưỡng ý thức cái khổ của con lừa chở nặng giữa sa mạc nắng cháy cũng chưa phải là cái khổ tột cùng, khổ bởi trái ý mong cầu, sinh tử luân hồi mãi trong sáu nẽo mới là cái khổ trầm luân cần phải vượt qua. Ý thức được như thế, phát tâm như vậy mới được gọi là Chánh phát tâm tu hành.
3/ Tâm tâm niệm niệm, dù Phật đạo có cao xa rộng lớn, một khi bước vào thì phải nuôi dưỡng tâm niệm tìm cho được suối nguồn an lạc. Từng giây phút không thối lui khiếp sợ, ý thức được ba cõi như nhà lửa luôn thiêu đốt chúng ta, mạng người mong manh đếm trong hơi thở, hơi thở ra không vào lại được coi như đã ra đi. Chẳng khiếp sợ bởi thế lực, không bị danh lợi tiền tài làm não loạn, không bị chi phối bở ý thức điên đảo, thấy các pháp là vô ngã, tan rã, vô thường không có gì bền lâu, nhẹ nhàng khi ở, thảnh thơi thì đi, không nuối tiếc những gì đã xây dựng được; vì biết rằng tất cả những thứ ấy đủ duyên thì hợp, hết duyên thì tan, ý thức như vậy không sợ hãi nỗi cô đơn, nghèo hèn, chỉ một lòng mong giải thoát cho mình và cho người, tựa như đang leo lên tháp cao cùng tột nhưng không bao giờ thối chí, phát tâm tu hành như vậy gọi là Chơn phát tâm.
4/ Dù tâm nguyện luôn cầu Phật đạo, trau dồi hạnh lành, nếu gặp phải va chạm những cấu uế, biết mình ô nhiễm, nhưng không hề khởi tâm sám hối, cầu sự thanh tịnh; trong tâm uế trược, cứ vùng vẫy với nghiệp lực mà sống, không nghe lời khuyên của Thầy Tổ, thiện tri thức, không biết đâu là nẽo chánh đường tà, không vứt bỏ những vị kỷ nhỏ hẹp, cống cao ngã mạn, ngu cả một đời; ngoài hình thì biểu hiện thanh cao, thể hiện xưng danh, bảo bọc cho cái tôi thấp hèn, bản ngã hẹp hòi, trước thì tinh tấn sau lại biếng nhác, phát tâm như vậy gọi là Ngụy phát tâm.
5/ Độ tận chúng sanh ra khỏi đau khổ, nguyện ta mới thành, được đạo quả giác ngộ lòng ta mới cam. Thấy chúng ta đang sống trong đau khổ trầm luân “soi bóng mình lại thấy bóng người xưa”, thương mình thương người, không yên vị mà thụ hưởng an lạc nhỏ bé được trong tâm, không thỏa mãn những gì đã có đang có, không quên mất bao nỗi đọa đày của người cần sự giúp đỡ của mình, chúng sanh không còn thì nguyện ta mới hết, bồ đề đạo thành nguyện ta mới thành, tu hành như vậy gọi là Đại phát tâm.
6/ Thấy cuộc đời như địa ngục, bởi sự thiêu đốt của lòng tham vọng ích kỷ, căm thù hừng hực và ngu dốt len lỏi tràn lan trong từng hang cùng ngỏ hẽm. Việc sống chết như oan gia, luôn kề cận trong từng giây phút không biết xảy ra lúc nào, sinh lòng sợ hãi, nhàm chán, nhưng chỉ nghĩ về mình mà không thương tưởng người khác, thiếu trách nhiệm với tha nhân, chỉ nghĩ tự độ không dám độ người, phát tâm như vậy gọi là Tiểu phát tâm.
7/ Thấy chúng sanh và Phật đạo ngoài tâm. Rong tìm thế giới hảo huyền bên ngoài, sống chỉ dựa vào tha nhân, tha lực, tựa như chùm gởi rong rêu bám vào cây cổ thụ, không thấy được ngọc quý trong túi áo, cứ rong ruổi tìm cầu miếng ăn bên ngoài, không nhận thấy được chúng sanh tâm là Phật tâm chỉ cách nhau trong mê ngộ. Bám chặt vào sự hiểu biết thiển cận, không lắng nghe những gì chân thật để mở bảy tự tánh, để tâm bị “ mục hạ vô nhơn” chế ngự, rong đuổi theo âm thanh hình sắc bên ngoài, nương vào tướng, nặng về hình thức, tìm những gì nhẹ nhàng bên ngoài, đánh mất năng lực bên trong, quên hẳn tánh thể. Phát tâm như vậy gọi là Thiên phát tâm, tu hành một chiều.
8/ Ngược lại, chúng sanh và Phật đạo đồng một tự tính, Phật pháp không lìa thế gian pháp, muốn thành Phật đạo không thể lìa sanh tử, vì ngoài sanh tử không có một Niết bàn nào cả, thanh tịnh nằm ngay bên trong vọng động. Phật tâm nằm ngay trong chúng sanh tâm. Bóng tối mất thì ánh sáng hiện, mặt trời trí huệ bừng sáng thì màn đêm vô minh tan rã. Ngoài tự tánh không thấy pháp nào khác. Mà tự tánh tâm như hư không rộng lớn, mang tâm vô tướng phát nguyện vô tướng, thực hành hạnh vô tướng, chứng quả vô tướng cho đến tướng vô tướng cũng không còn vướng mắc. Phát tâm như thế gọi là Viên, phát tâm viên mãn.
**
*
Tám tướng phát tâm nêu trên làm cơ sở cho hành giả khảo cứu, suy xét biết được tâm nguyện của mình đang ở trạng thái phát tâm nào; tâm nào cần triển khai, gìn giữ và tâm nào cần nên vứt bỏ, để được gọi là phát tâm tu hành chơn chánh. Nên biết rằng, tâm giác ngộ là nền tảng, là đất tốt cho các pháp lành phát sinh. Các pháp lành phát sinh là tâm giác ngộ được vững chắc kiên cố. Tuy nhiên, để thúc đẩy tâm bồ đề dễ dàng phát khởi, pháp lành phát sinh, Ngài Tỉnh Am chỉ ra rằng cẩn phải nỗ lực thực hiện 10 việc:
1/ Phải nghĩ đến ơn nặng của Phật:
Vì sao phải nghĩ đến ơn nặng của Phật? Vì Đức Phật đã thấy nỗi khổ của mình và chúng sanh trong sáu nẽo luân hồi đau khổ, mê lầm. Phật đã quên mình, xả thân thực hành Bồ-tát đạo, hy sinh hạnh phúc bản thân, quyết tìm ra ánh sáng giác ngộ để hướng dẫn cho mọi người biết được đâu là nẽo chánh đường tà và tìm một hướng đi đến bờ an vui; không để chúng sanh phải khổ sở và tiếp tục khổ sở trong nhiều kiếp bởi nghiệp lực chồng chất. Trong quá trình tiến đến giác ngộ, Đức Phật đã vượt qua nhiều chông gai cạm bẫy, thử thách trong đó sự chết luôn luôn hiện hữu kề cận, để chiến thắng được giặc phiền não, không vì lợi ích cho riêng mình. Trong nhiều đời nhiều kiếp, Đức Phật luôn theo dõi bước đi của chúng ta để mở bày nhiều phương tiện cứu độ, lòng không lúc nào rời bỏ. Đối với ơn cao vời đó, chúng ta chỉ có phát tâm rộng lớn, nỗ lực tu hành, thệ nguyệnn cứu độ chúng sanh thì mới phần nào góp phần đền đáp ơn Phật trong muôn một.
2/ Phải nghĩ đến ơn cha mẹ:
Mười tháng cưu mang, ba năm bú mớm. Sanh ra ta cha mẹ đã phải chấp nhận có lúc quên mất đời mình, phải đấu tranh từng ngày, từng phút, trao cho con nhiều thời gian để tiến thân, dành cho con được những điều kiện tốt nhất để con có tấm thân hoàn hảo, chỉ vì mong muốn con mình luôn luôn được an vui, có thể ngưỡng mặt với mọi người giữa cuộc đời này. Cũng có lúc, vì con mà cha mẹ đành phải tù tội, vây bủa bởi nghiệp lực tiêu khiên, kéo dài cho mãi đến nghìn kiếp sống. Bấy nhiêu ơn ấy, là người hiểu biết chắc không cần phải hỏi vì sao? Mà cần phải lắng lòng suy nghĩ cho kỹ, để ơn đền nghĩa trả, cho tròn bổn phận đạo lý làm con, làm người giữa xã hội trong đó ân tình, nghĩa trọng được mọi người tôn quý ca ngợi tán thán. Là người Phật tử, chúng ta không những ý thức việc cung phụng vật chất với cha mẹ cho trọn vẹn đầy đủ mà cần phải thiết lập được môi trường thuận tiện để cha mẹ có được nguồn tâm linh trong sáng, tâm thức nhẹ nhàng khi quá vãng. Có ý thức và phát tâm như vậy, cha mẹ chúng ta mới có thể nhờ đó mà được cứu vớt, không những một đời mà nhiều đời cũng được ân triêm.
3/ Phải nhớ đến ân Thầy:
Thầy không phải là người sinh trưởng ra ta, cho ta tấm thân vật chất, nhưng Thầy là người đã cho ta một phần con người, đó là tấm thân tri thức, tinh thần, trí tuệ mà trong đời sống con người, nếu thiếu mất tấm thân này thì sẽ gặp nhiều hoạn nạn, khổ đau. “Nỗi khổ của con lừa chở nặng, nỗi khổ của con bò kéo xe suốt kiếp chưa phải là khổ, sống thiếu trí tuệ, kiến thức là một nỗi khổ lớn”. Thầy xuất thế là chính duyên xây dựng cho chúng ta giới thân huệ mạng, Thầy tựa như ngôi sao sáng, chiếu rọi vùng trời tâm thức của chúng ta, người giúp chúng ta vượt qua con đường tối tăm và nguy hiểm. Lời Thầy dạy là những bài học sống động, giúp chúng ta vượt khỏi mọi biến cố của kiếp người. Thầy cho ta cái Chữ và Đạo phong.
4/ Phải nhớ ơn thí chủ:
Thí chủ là người giúp ta nhiều phương tiện, để hoàn thành ước nguyện của đời mình. Người xuất gia sống không gia đình, mọi điều kiện sống đều do thí chủ dâng cúng, chỉ vì mong mỏi cho chúng ta đủ yên tâm, đủ thời giờ để tu hành, đạt đến suối nguồn tâm linh sâu thẳm, hầu cứu vớt chính ta và mọi người. Thí chủ là người đã dám hy sinh một phần thời gian và tiền của trong đời sống riêng tư của họ, để trợ duyên cho chúng ta tu học, hoàn thành mục đích là giải thoát và giác ngộ, theo con đường Phật dạy. Nghĩ đến như thế, chúng ta thấy ơn ấy rất nặng! Nếu không hoàn thành được mục đích cao tột đó thì cánh cửa địa ngục sẽ mở ra và thân trâu ngựa để trả nợ cơm áo, là chuyện gần kề trước mắt. Ngược lại, chúng ta hoàn thành được mục đích giác ngộ thì dù cho có thọ hưởng những điều kiện sống cho Phật tử dâng cúng cũng không cần phải áy náy chuyện trả vay, vì tất cả đều nằm trong sự vận hành của phước đức và trí tuệ.
5/ Phải nghĩ đến ơn Chúng sanh:
Vì sao? Môi trường sống không phải của riêng ta mà là của tất cả, do bao mồ hôi nước mắt của đồng loại tập hợp lại mà thành. Chúng ta không thể sống mà thiếu sự cộng tác của mọi người. Trong hiện kiếp chúng ta mỗi người mỗi ngã, mỗi nhà, nhưng dưới đôi mắt trí huệ của Phật, Ngài thấy được trong vô lượng kiếp sống, chúng ta đã từng là Cha mẹ, thân bằng quyến thuộc với nhau, đã có ân tình nghĩa trọng, do đó chúng ta cần phải hỗ trợ và bảo bọc lẫn nhau, phải tôn trọng sự sống. Với lòng từ bi rộng lớn, chúng ta cần phải thấy ai cũng tham sống sợ chết, mưu cầu sống hạnh phúc là mục tiêu lớn nhất của loài người. Vì vậy, không vì hạnh phúc của mình mà chúng ta nỡ đang tâm cướp đoạt đi hạnh phúc của kẻ khác. Chúng ta phải cảm ơn tất cả, những bàn tay đã làm cho cuộc đời thêm xanh.
6/ Phải nghĩ đến sự khổ Sinh tử:
“Trẻ tạo hóa đành hanh quá ngán
Chết đuối người trên cạn mà chơi…”
Chúng ta đang sống là hiện tượng đang thấy và diễn ra trước mắt, tuy nhiên mấy ai biết rằng, cái chết diễn đang diễn ra trong từng giây phút. Đã bao lần, chúng ta đã chết, chết trong đau khổ và thiếu thốn, chết trong sự khao khát sinh tồn, chết trong sự tuổi nhục cô thân và chết trong chuỗi biến động của cuộc đời. Âu cuộc đời quá nhiêu khê! Sống giữa ngũ trượt ác thế mà tựa như chết đuối trên cạn. Chuyện cứ tưởng trong mơ nhưng sự thật là thế! Nhưng những cái chết như thế chưa hẳn là đáng sợ, vì vẫn có những cái chết diễn ra lúc chúng ta đang tỉnh táo, nhưng đành xuôi tay bất lực, có những khi, ta thực sự muốn chết nhưng không thể chết được. Cái chết ấy gọi là cái chết sanh tử luân hồi, tạo cho chúng ta bị quay cuồng trong vòng vây của đời sống, qua nhiều kiếp lang thang trong sáu nẽo. Đó mới là cái khổ thực sự, một sự thật mà chúng tà cần phải đối diện.
7/ Tôn trọng tánh linh của mình:
Vì sao? “Bàn tay ta làm nên tất cả, với sức người sỏi đá cũng thành cơm”. Đó chỉ mới bàn tay. Hơn nữa, thiên chức con người quá lớn và mãnh liệt hơn bao sinh vật khác, chúng ta phải biết thận trọng và gìn giữ, đừng biến chúng ta mãi mãi chính là cây sậy chỉ biết nghĩ suy. Đức Phật dạy, được thân người là khó nhưng rất dễ mất đi, một khi mất đi thì chưa biết khi nào mới có lại được. Hơn nữa, trong tất cả các loài, con người quý hơn hết (Nhơn vi tối thắng), xét lại ta và Phật ban đầu thì nhất niệm như nhau; nhưng Đức Phật sớm thành chánh giác còn ta cứ vẫn mãi là chúng sanh trôi lăn trong nghiệp thức, như kẻ từ sáng bước vào tối hoặc từ tối lại bước sâu vào trong tối. Do đó, việc gìn giữ và phát triển tánh linh của mình hết sức quan trọng, nếu không nhận thức được tánh linh là tối cần thiết thì chúng ta dễ dàng bị nghiệp lực dẫn dắt chúng ta lên xuống mãi trong sanh tử.
8/ Phải sám hối nghiệp chướng:
“Đã mang lấy nghiệp vào thân
Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa”.
Nghiệp chướng, xét đến tận cùng đó là thuộc tính của con người. Khi chúng ta hiện hữu là đồng thời nghiệp chướng có mặt. Vậy muốn hiện hữu tốt đẹp, thân tướng trang nghiêm thì không gì khác phải biết phát khởi tâm sám hối những mê lầm và gội rữa chúng. Nghiệp chướng phát sinh và tăng trưởng trên cơ sở cả ba nghiệp là thân, khẩu và ý. Chúng luôn luôn được huân tập trong từng giây phút của đời sống, vì mỗi hành động đều có thể hàm chứa nhiều tội lỗi. Từ ba nghiệp này tạo thành một dòng sức mạnh thúc đẩy chúng sanh đi mọi hướng và tạo môi trường sống cho chúng sanh, gọi chung là nghiệp lực. Nhưng nghiệp lực không phải là định mệnh, nó có khả được chuyển đổi, mức độ chuyển đổi nhanh hay chậm phụ thuộc vào nhận thức, thái độ của chúng ta, đúng hơn là theo sự tu hành của mỗi người. Từ sự nỗ lực tu tập đó, nghiệp cũng có thể thay đổi thành nguyện lực để làm lợi lạc cho mình và cho người. Nhưng muốn làm việc này, trước hết chúng ta cần phải biết nhận thức rõ hành động của chúng ta để sám hối, để ăn năn, để tăng trưởng phước nghiệp. Trong chiều hướng chuyển hóa nghiệp lực thì tâm tàm quý là chiếc áo phải có và cần thường xuyên mặc vào của người tu, nếu thiếu chiếc áo này người tu có bận chiếc áo gì chăng nữa cũng không đủ ý nghĩa, khó có thể tiến bộ.
9/ Phải cần sanh Tịnh độ:
Vì sao? Vì Tịnh độ là đất nước an lành, là điểm quy hướng, nơi đây không có gập ghềnh, không có nghịch ý, điều này nói lên khát vọng sống luôn mong được hạnh phúc trong mỗi con người. Tịnh độ là thế giới thanh tịnh, trong sáng không cấu nhiễm, ở một mặt nào đo, Tịnh độ là là mục đích hướng đến của hành giả tu theo đạo Phật (Tâm tịnh thế giới tịnh). Do đó, phải hướng về và cầu sanh Tịnh độ. Muốn cầu sanh Tịnh độ thì cần phải xây dựng niềm tin vững chác (Tín thâm), nguyện của chúng ta phải khẩn thiết (Nguyện thiết), như kẻ sắp chết đói mong mõi được thức ăn. Một khi đã có khẩn thiết nguyện cầu như vậy, chúng ta cần phải thực hành nghĩ tưởng về đức Phật tương tục không gián đọan (Hạnh chuyên).. Niệm Phật là để làm Phật chứ không phải là về bên Phật, phát tâm rộng lớn như thế thì hạt giống bồ đề có cơ hội sớm trổ bông.
10/ Tại sao phải nghĩ chánh pháp lâu bền:
Chánh pháp đã giúp con người bao thế hệ vượt qua mọi lầm than của kiếp người, vượt thóat những nghi lầm là nguyên nhân đọa đầy sanh linh vạn lọai. Chánh pháp không phải là báu vật kiến thức được lưu trữ trong kho tàng mà là con đường, là liều diệu dược có công năng chữa lành những căn bệnh trầm kha.Nếu như chánh pháp có lâu bền mới làm lợi lạc lâu dài cho hiện tại và cả tương lai. Chánh pháp được Đức Phật tuyên thuyết sau khi chứng quả bồ đề, Ngài đã làm cho những gì khó làm, vượt qua những gì khó vượt, tiếp tục trong 49 năm thuyết pháp độ sanh không mệt mỏi và hiệu quả thiết thực do chánh pháp mà dức Thế tôn để lại là những bài học sống động có thể kiểm nghiệm trong cuộc sống hiện thực này. Hôm nay trọng trách của chúng ta chỉ có duy trì phát triển để ngọn đèn giác ngộ vẫn mãi sáng rực. Đấy mới là người con Phật chân chánh.
**
*
Lời văn mộc mạc của một Đại sư thời quá khứ, nhưng hiện tại đọc lên tâm thức chúng ta như được sống dậy. Nếu chúng ta xem cuộc đời như một lễ hội thì bản văn này là lời khai mạc của lễ hội đó. Trong lời khai mạc, tác giả nói lên ý nghĩa thống thiết của niềm khát vọng sống, sống đẹp, sống trọn vẹn. Lời văn uyên áo, thâm trầm và được soi sáng dưới ánh sáng giác ngộ của một Đại sư, nói lên tất cả tâm can những hành trạng sâu thẳm và khát vọng cũng như những giá trị tíchcực trong mỗi con người. Thế mới gọi là xúc cảm vô biên được dâng trào trong ngôn từ cổ tích uyên áo, càng đọc chúng ta càng thấy sống và càng muốn sống theo khuynh hướng làm đẹp cuộc đời. Tu hành là việc khó làm của một đời người, tuy đôi khi phải chấp nhận khổ sở trong thời gian ngắn; nhưng niềm hạnh phúc đạt được sẽ vô cùng chắc thật và miên viễn không những ở đời này mà còn nhiều đời về sau.
------------------------
TẢN MẠN HIẾU DƯỠNG
Arthur Schopenhauer là một triết gia Âu Tây. Thuở thiếu thời, ông như nhiều đứa trẻ đồng tuổi khác, nhưng khác là ông đã gặp nhiều trái ngang trong cuộc đời, một sự thật đúng ra lứa tuổi của ông không nên hội ngộ quá sớm. Và có thể, từ những kinh nghiệm đau đớn này đã tạo nên một dòng tư tưởng lớn, sau này chúng ta biết ông là một triết gia có tư tưởng gần tương đồng với Phật giáo: Quan niệm khổ và nguyên nhân của khổ trong nhân sinh - vũ trụ.
Một trong nhiều buồn khổ lớn của đời ông đó là giai đoạn khi cha mất, ông sống với mẹ, cảnh mẹ ông trở nên quá phóng túng, lãng mạn, thật hết sức đau đớn và tủi nhục nếu cứ sống mãi trong cảnh ngộ này. Arthur Schopenhauer quyết định trốn nhà ra đi và dắt theo đứa em gái đến ở nơi khác, để em gái ông không tiêm nhiễm tác phong của bà mẹ vô phước, có đời sống phóng túng lãng mạn.
Mạnh Tử là một triết gia phương Đông. Khi còn thiếu thời, mẹ của Mạnh Tử đã nhiều lần thay đổi, chọn chỗ ở, quyết tâm không để màu trắng tâm hồn con mình nhuộm đen thói xấu. Đầu tiên là phố chợ nơi diễn ra nhiều cảnh tượng gian lận, đấu tranh của người lớn, kế đến lò mổ heo nơi nuôi dưỡng lòng giết hại, ác tâm và cuối cùng con đường dẫn đến gần trường học, một môi trường xây dựng nhân cách con người tốt có động lực thúc đẩy nhân cách của ông. Từ những nỗ lực của mẹ, để cuối cùng Mạnh Tử có một tiếp cận tốt đẹp trong ông, nhân cách đạo đức, một luồng tư tưởng nói lên bản chất con người trong quan niệm: Bản tính con người là thiện.
Tình phụ mẫu tử hiếu dưỡng, huynh đệ hiếu thuận, xét cho đến tận cùng ngõ ngách trong vũ trụ này, chúng ta thấy rằng, nơi đâu cũng đều có những tấm gương hiếu hạnh, sự lựa chọn nuôi dưỡng vĩ đại. Bởi lẽ, trong con người ai cũng có trái tim và lý trí, đây là sự khác biệt giữa con người và các loài khác (nhơn vi tối thắng).
Nền tảng từ trái tim và lý trí của con người trong mối quan hệ tương duyên nhân quả, Đức Phật đã triển khai và định hình hai thuộc tính ấy lên đỉnh cao tuyệt đối hóa thành tình thương và sự hiểu biết. Dưới con mắt trí tuệ, Đức Phật đã chỉ ra rằng, con người không thể sống tách biệt bởi một cá thể, nói rộng ra, không có một pháp nào tồn tại độc lập, chúng đều đồng trụ và phát triển trong mối tương duyên trùng trùng.
Con cái không thể không có sự chăm sóc chu đáo của cha mẹ, chúng khôn lớn trưởng thành không thể thiếu tình thương và sự hiểu biết của người lớn. Anh chị em có hòa hiếu với điều kiện không thể vắng mặt lòng thương yêu đùm bọc lẫn nhau. Cũng thế, cha mẹ thiếu con cái, thiếu sự hiếu đễ của các con dành cho chắc hẳn cha mẹ đó sẽ thiếu hạnh phúc, gia đình ấy không an toàn. Tóm lại, không có sự hiểu biết chủ động trong sợi dây tình cảm thì một gia đình sẽ không trọn vẹn có một hạnh phúc tương đối khả dĩ được thiết lập.
Nhìn ra xã hội rộng lớn cũng thế, nếu không có ân tình, ân nghĩa làm chủ đạo trong giao tiếp thì xã hội sẽ lọan ly, môi trường ấy chỉ là cạnh tranh và giết chóc, không có một xã hội gọi là văn minh - tiến bộ - an lạc hạnh phúc, nếu con người chỉ biết sống cho mình, ích kỷ, vong thân, mất gốc.
Từ tình thương và sự hiểu biết, Đức Phật khẳng định trong đạo làm người, Hiếu là căn bản. Trong kinh Đại Tập có dạy rằng: "Sanh đời không có Phật, khéo thờ cha mẹ là thờ Phật". Và cũng thế, một trong năm tội lớn nhất, nhà Phật gọi là tội ngũ nghịch nếu ai phạm vào sau khi chết sẽ đọa vào địa ngục Vô gián khó có thể thoát khỏi được, đó là: Bất hiếu với cha mẹ. Kinh Nhẫn Nhục ghi rằng: "Cùng tột điều thiện không gì hơn hiếu, cùng tột điều ác không gì hơn bất hiếu".
Tuy nhiên, chúng ta nhớ rằng không phải vì sợi dây ràng buộc nhân quả của hiếu hạnh, mà chúng ta phải chấp nhận tất cả mọi thứ phi lý để trọn vẹn chữ hiếu. Hiếu không thể thiếu trí tuệ, tình cảm không thể thiếu lý trí. Không phải vì quá thương con, theo lòng tham khát của chúng mà những bậc làm cha mẹ đành phải hy sinh nhân phẩm, địa vị, quên luôn cả tội lỗi của hành động mình gây ra để cưng chiều, đáp ứng đòi hỏi sai trái của chúng. Cũng thế, không vì nghiệp chướng, tập khí của cha mẹ mà kẻ làm con phải lặng thinh để phục vụ những thèm khát ích kỷ, tà kiến của cha mẹ cho tròn chữ hiếu. Những thương - thảo - hiếu - nghĩa như thế, Đức Phật bác bỏ vì đó chỉ là những tình thương thiếu hiểu biết, những việc làm chỉ mang lại hậu quả xấu không những trong đời này mà chôn vùi lẫn nhau trong nhiều đời kế tiếp.
Kinh Phật dạy rằng, cha mẹ biết thương con là những bậc biết hướng con xa lìa nẻo ác, đến với nẻo thiện, biết hướng con vào mục đích sống có lợi cho mình và cho người chứ không phải lợi mình mà hại ngưòi. Làm con chí hiếu không những cung phụng đủ vật thực cần thiết để đền đáp công ơn nuôi dưỡng, những tháng năm khó nhọc tần tảo nuôi con mà cần phải biết tạo điều kiện để cha mẹ gần với việc thiện nếu cha mẹ đang đi trên nẻo ác. Cụ thể là biết quy hướng cha mẹ đến với Tam bảo nếu cha mẹ chưa gặp được Phật pháp để có một tánh linh trong sáng.
Arthur Schopenhauer dám mạnh dạn vượt qua tình cảm thiêng liêng, rời bỏ người mẹ kính yêu của mình ra đi, lý do đơn giản là để cho người em gái của mình khỏi trông thấy cảnh vẫy vùng nghiệp lực của mẹ mình, và hơn thế nữa để người em gái không vì gương ấy mà tiêm nhiễm, có nguy cơ hủy hoại cuộc đời của em mình trong tương lai, bởi lẽ hành động của cha mẹ là tấm gương phản chiếu, quyết định chiều suy tưởng của con cái sau này.
Người mẹ của ngài Mạnh Tử vì tình thương vô biên dám hy sinh đời sống yên ổn của mình, sẵn sàng di chuyển nhiều nơi, để tìm một chỗ xứng đáng khả dĩ là môi trường tốt, hoàn cảnh thuận lợi để con mình có cơ hội tiến thân, phát triển thiện tâm, không bị tạp khí ô nhiễm, tính xấu bên ngoài tác động.
Dưới cái nhìn của Đức Phật, chúng ta là những người con Phật có thể rút ra được nhiều bài học quý báu trong những gương hiếu hạnh từ xưa cho đến hôm nay. Cụ thể hai sự kiện trên có thể học được cách hiếu dưỡng cho đúng với tinh thần tri ân - báo ân thiêng liêng của con người bất biến với thời gian. Nếu làm người mà thiếu vắng đi suy tưởng ân tình nghĩa trọng, thiếu đi tấm lòng nhân nghĩa, mất đi tâm niệm đền ơn đáp trả, thì chính ngay lúc ấy con người đã đánh mất đi địa vị làm người của mình. Hơn thế nữa, hiếu nghĩa đã là một đạo lớn, đạo lý của loài người dù Đông Tây Nam Bắc,ở khắp phương trời nào chăng nữa cũng không thể xem thường.
Mùa Vu lan lại về, nhắc nhở chúng ta những người làm con chạnh lòng nhớ nghĩ đến các bậc sanh thành, ân tình với đồng loại cộng tồn dù hữu hình hay vô hình, để có những hành động thiết thực, đời sống phù hợp với một thế giới phát triển khoa học, mà trong đó nguồn sống tâm linh thật sự là chủ đạo.
-----------------------------
PHẦN 2.
CON ĐƯỜNG TRƯỚC MẶT
LẮNG NGHE LỜI THẦY
Truyền thống giáo dục của Phật giáo có ba hình thức căn bản, gồm: khẩu giáo, thân giáo và ý giáo. Tùy theo căn cơ của người đệ tử mà các bậc thầy có thể sử dụng nhiều phương thức hướng dẫn khác nhau, nhưng thân giáo vẫn là quan trọng hơn cả cho thầy lẫn trò. Trở về khoảng thời gian Đức Phật còn tại thế, sự thuyết giảng của Ngài chưa bao giờ có hình thức giảng dạy như hình thức viết lách như chúng ta hiện nay. Ngài chỉ quán xét đối tượng đệ tử, sau đó nói những điều cần thiết là có thể đi thẳng vào tâm thức của họ, và trợ duyên cho nhận thức của họ đi sâu vào chiều hướng thực hành. Hình ảnh này cũng là truyền thống đạo học ở Ấn Độ xưa được kết tinh trong bốn bộ kinh Vedas và áng văn Upanishad mà chúng ta biết được trong kho tàng kiến thức của nhân loại. Từ Unpanishad có nghĩa là ngồi xuống xung quanh Thầy và lắng nghe.
Ở đây, chúng ta thấy rằng con đường của đạo học nhằm để làm giàu đời sống tinh thần, làm giàu nguồn sống tâm linh, tăng trưởng nội tâm và cuối cùng bừng ngộ chân lý. Phương pháp thế học khảo sát trên nền tảng tri thức của nhân loại được sao chép, bảo lưu từ thế hệ này sang thế hệ khác. Phương pháp đạo học khảo sát ngay trên bản tâm, trong đó hàm chứa cả tạp nhiễm và thanh tịnh. Tuy cả hai nền giáo dục có khác nhau nhưng cơ bản giống nhau dựa trên một thái độ: đó chính là sự lắng nghe.
Bởi vì, một thầy giáo không nghe được tiếng nói của học trò mình, không nghe tất cả những tư, trăn trở, tâm tình cũng như sự phản ánh của chúng thì không thể truyền đạt kiến thức cho người học trò có hiệu quả. Một vị thầy xuất thế nếu như không lắng nghe, không quán sát tâm tư, tiếng nói của đệ tử mình thì lời dạy của vị đạo sư cũng không có hiệu quả thiết thực. Vì vịThầy đó sẽ nói những điều vượt ra ngoài trọng tâm nhận thức của người đệ tử, nếu không muốn nói là Thầy chỉ nói những điều Thầy thích nói, còn học trò có nghe được hay không, có tiếp thu hay không chưa phải là vấn đề đáng quan tâm! Ngược lại, người học trò cũng thế, nếu không biết lắng nghe thì dĩ nhiên sẽ không tiếp thu được gì từ người thầy truyền đạt. Lắng nghe không phải chỉ đơn thuần là một thao tác đơn giản mà phải là chuyên môn, vì cần phải học cách lắng nghe,phải thực tập hạnh lắng nghe.
Cũng thế, đệ tử khi đến học đạo với một vị đạo sư, nếu như không học theo hạnh lắng nghe, thì đối với người đệ tử, buổi thuyết giảng không đem đến kết quả. A trình học đạo và mục đích học đạo là nhằm để chuyển đổi tâm thức của chúng ta từ ô nhiễm, xấu ác, lệch lạc về với chiều hướng tốt, để bừng sáng bản tâm, từ chuyên môn gọi là để ngộ. Nếu không ý thức việc học đạo như thế, thì khi nghe thầy thuyết giảng cũng tựa như nghe người khác diễn thuyết, ca xướng, kịch ảnh, chỉ tăng trưởng kiến thức và hý luận.
Một vị thầy có thể nghe được tiếng nói và dòng suy nghĩ cũng như sự vận hành dòng nghiệp lực của học trò thì sẽ có những tác động rất lờn đối với ngược học trò. Bởi lẽ, với tuệ giác và năng lực riêng, người Thầy có thể hướng dẫn học trò những điều gì cần làm và hững điều gì nên tránh, giúp cho người học trò có thể lọai bỏ những tập khí nhiễm ô đã bó buộc mình trong vô lượng kiếp, dẫn đến đau khổ, làm cản trở, chậm tiến đường tu của họ. Nhưng sau khi nghe lời Thầy dạy rồi mà người học trò không thường xuyên quán niệm về những lời dạy của Thầy, không đặt trọng tâm vào nỗ lực chuyển đổi tập khí thì việc học đạo không có kết quả. Trên thực tế, có rất nhiều và rất nhiều đệ tử vẫn thường xuyên được thầy nhắc nhở, nhưng người khác thì tiến bộ từng ngày còn lại thì vẫn lì y như vại bởi lẽ sự khác nhau căn bản giữa những người này là có học theo hạnh lắng nghe hay không.
Đã có biết bao lớp người, rất thành kính và rất hồ hởi tìm đến một vị thầy để học đạo, nhưng khi được thầy khuyến tấn bỏ ngay những suy nghĩ dẫn đến vướng mắc trong cuộc sống, thì người đệ tử ấy không nghe theo, vẫn bo bo cố chấp, gìn giữ cho đó là suy nghĩ chín chắn của mình. Hơn nữa, có những vị đến học đạo nhưng lại không tháo gỡ tâm tánh của mình thóat khỏi sự vướng kẹt bởi hệ lụy; hoặc không mấy tin tưởng về khả năng của vị thầy. Đối với người học đạo nói chung, nếu như cứ ôm ấp, gìn giữ những tâm lý ấy, tất sẽ mang lại sự chậm tiến nếu không muốn nói là không có kết quả trong việc học đạo.
Thực tế cho chúng ta thấy, người học đạo thì nhiều, nhưng để sửa tâm tánh thì không bao nhiêu, đó là kết quả do việc không chịu lắng nghe. Lắng nghe ở đây không phải chỉ nghe để nghe suông, nghe ở đây là phải biết vận dụng sự nghe ấy vào trong đời sống thực tiễn tu học; cũng tựa như mỗi ngày chúng ta cần phải có tắm rữa để vệ sinh, ăn uống ngủ nghỉ để bảo vệ sức khỏe, giải trí để giảm lượng căng thẳng sau khi làm việc, và tập thư giãn để thu nhận niềm hạnh phúc. Lắng nghe lời thầy cũng thế, cần phải được học hỏi và trau giồi thường xuyên bằng ý thức tự giác cao độ.
---------------------
NGHỊCH DUYÊN: PHƯƠNG TIỆN ĐỂ HƯỚNG ĐẾN MỤC ĐÍCH
Trong tất cả công việc, trước khi tiến hành thì bao giờ cũng vậy, chúng ta thường nghĩ đến mục đích của công việc sẽ làm sau đó, đưa ra nhiều suy tính, cách làm nào để đạt đến mục đích ấy. Tuy nhiên, chúng ta thấy rằng lý tưởng, ước vọng công việc trong mỗi người ai cũng có, nhưng không phải ai cũng có thể thực hiện được. Có người đạt được mục tiêu trong thời gian ngắn, có người tốn kém nhiều thời gian, có người dễ dàng nhưng với người khác thì không thể trôi chảy. Cuối cùng vẫn có những người không bao giờ đạt được mục tiêu mà mình đã đề ra.
Với đạo Phật, để hoàn thành một công việc dù nhỏ hay lớn, cần phải có sự hội ngộ của các duyên, trong đó bao gồm các yếu tố chính và phụ như là nghịch duyên và thuận duyên. Thuận duyên còn gọi là thắng duyên hay phước duyên. Thắng duyên, thuận duyên ai cũng mong muốn, không có thuận duyên thì công việc chưa hẳn thành tựu. Thắng duyên cũng thường được đề cập như là những yếu tối hội đủ phước báo, nếu xem xét sâu xa hơn nữa đó là những gì mà chúng ta đã có làm, có tạo duyên, và có gây trồng, như là đã có gieo duyên. Nghịch duyên là những yếu tố ngược lại, đi ngược lại mong muốn, ngược lại sở nguyện, như là thiếu phước và thiếu duyên.
Mục đích của người học Phật là đạt đến trạng thái an tĩnh của tâm hồn, chứng nghiệm được sự an lạc của bản thân, đó là mục đích cơ bản thực tế mà mỗi người khi đến với đạo Phật cần nên nắm rõ. Ý nghĩa thâm sâu hơn là giải thoát sinh tử luân hồi, đạt đến giác ngộ. Ngược lại, những việc khác chỉ là phương tiện. Phương tiện được đề cập ở đây chính là những giải pháp, những cách thức, những con đường giúp chúng ta đạt đến những mục tiêu ấy. Cụ thể, những con đường ấy là lời Phật dạy, là những Phật sự liên quan đến đạo, đến những sinh hoạt trong khuôn khổ mang đạo vào đời. Lời Phật dạy được chứa đựng trong kinh là những phương tiện căn bản để tu tập. Phương tiện phụ là hạt giống của chúng ta, môi trường tha nhân và đồng loại. Trong cái nhìn bi nguyện của người Phật tử thì tất cả chúng sanh đều là bạn lữ, là thiện trí thức, dù đó là thuận hay nghịch, người thiện hay ác, tốt xấu v.v… dù trong hoàn cảnh, môi trường nào chăng nữa chúng đều là những đối tượng cần thiết trong việc tu tập, và là yếu tố có thể giúp chúng ta thăng hoa trên con đường đạo, đạt đến sở nguyện. Và còn rất nhiều phương tiện khác nữa cùng đồng hành với chúng ta trong bước đường thực hiện mục tiêu, ở đây không loại trừ những yếu tố trái ngược, gọi là nghịch duyên.
Nếu không có nghịch duyên trên con đường của chúng ta đang đi, hay mục đích đang thực hiện, thì rõ ràng không có gì đáng nói, và không có gì đáng bàn cãi, quả thật là phước báo. Nhưng nghịch duyên xét tận nguồn gốc cũng là một yếu tố trong hai mặt của một vấn đề. Chúng ta phải có cái nhìn thế nào. Khổng Tử đã từng nói: “Người thiện cũng là thầy, là bạn ta, mà người ác cũng là thầy, là bạn ta, chúng đồng hành và có thể giúp ích cho ta”. Trong hai vị thầy và bạn dù là thầy thiện hay bạn ác, chúng ta cần phải học và cần phải có sự lựa chọn chính xác, bởi vì bản chất của chúng chính là những yếu tố cần thiết phải tác hợp để thành tựu. Trong mười điều tâm niệm của người Phật tử, chúng ta biết rằng: “Sự nghiệp thì đừng cầu không bị chông gai, vì không bị chông gai thì chí nguyện không kiên cường”. Chông gai chính là nghịch duyên, mà nghịch duyên nhiều lúc phủ đầy trên bước đường chúng ta đang đi. Khi chúng ta không hiểu được bản chất của những tác duyên này, thì quả thật đây là một lực cản lớn cho tất cả mọi sự tiến bước.
Người học Phật chín chắn, chúng ta cần phải sẵn sàng đón nhận nghịch duyên là một phương tiện chứ không phải là một lực cản. Khi cảm nhận và biết chắc rằng đây là phương tiện cần phải có để chúng ta thực hiện mục tiêu thì lúc ấy nghịch duyên bản chất của chúng không còn là một tác duyên xấu. Lúc bấy giờ tâm thái chúng ta không trốn chạy hay tránh né khi nghịch duyên đến mà ngược lại, tiếp nhận chúng như là chất xúc tác để làm giàu thêm sức kiên định, tâm nhẫn nhục và hạnh tinh tấn v.v… Trong cuộc đời hoằng hóa của Đức Phật, chúng ta thấy rằng Ngài cũng không tránh khỏi những nghịch duyên, tuy nhiên với sự hiểu biết cùng tột, Ngài đã khôn khéo đón nhận và hóa giải chúng thành bạn lữ và cuối cùng thâu nạp chúng trở thành một thể bình đẳng vô sai biệt giữa các pháp.
Nhìn các pháp như huyễn hóa, vô thường, khổ đau, bất toại ý để thoát ly và không tham đắm chúng, thì đó chính là quán niệm đúng đắn của một vị học Phật. Người học Phật khi thấy được các pháp là như thế, mục đích là thấy được các pháp là huyễn trong vô huyễn, thân vô thường trong cái thường, bất tịnh chính là thanh tịnh khi đang vươn đến mục đích.
Hiểu và tin như vậy, thì nghịch duyên không phải là đối tượng cần phải loại trừ, mà chính là cần phải có thái độ trực diện và chọn cách hóa giải. Vì đó chính là phương tiện thật sự cần thiết để chúng ta đạt được mục đích. Có sự quán chiếu như vậy thì khi gặp những điều bất toại ý, chúng ta dễ tiếp nhận hơn; cũng thế, cuộc đời cũng dễ dàng dung chứa chúng ta hơn.
-------------------------
TÌNH YÊU CHÂN THẬT
Bạn đã từng hỏi tôi: giữa cuộc đời này có tình yêu chân thật hay không? Câu hỏi quá sức hóc búa này, không phải khó đối với riêng tôi, mà khó trả lời cho rất nhiều người trong từng thời đại. Vì đây chính nội dung câu hỏi mang đầy tính thời sự và nhạy cảm của nhiều giới, mọi lứa tuổi.
Tôi chỉ trả lời với bạn trong phạm vi suy nghĩ của mình. Có tình yêu chân thật chứ. Việc cho rằng, có hay không có nó không nằm trong câu hỏi và câu trả lời của lý thuyết, ngôn ngữ; chúng ta sẽ khó tìm ra một câu trả lời dứt khoát, bởi chính chúng luôn di chuyễn theo nhiều chiều ngược lại. Theo tôi, sẽ có một câu trả lời là chính trong thái độ sống, trong hành động của mỗi con người sẽ thay ta trả lời câu hỏi lớn lao đó. Tình yêu sẽ theo dòng suy nghĩ của mỗi con người để cuối cùng trở thành chân thật hay giả dối.
Một cách được học, tôi nói tình yêu chân thật theo lời của đức Phật dạy, trước nhất tình yêu ấy phải được đốt lên trong những trái tim thật sự yêu thương và biết cởi trói lòng yêu thương ấy hết khả năng của nó. Bởi vì, chỉ có trái tim yêu thương được rộng mở thì bạn và tôi mới có đủ sức để đối diện, để tháo gỡ được những vướng mắc, mâu thuẫn, xung đột và mới đủ ý thức tha thứ cho nhau nhiều lỗi lầm, mới đủ khả năng để dập tắt sự ích kỷ hiện hữu trong tình yêu thương ấy. Có như vậy, bạn và tôi mới tỉnh táo thấy được đâu là sự thật của vị ngọt tình yêu, là bước đi và sự rung động của trái tim, vừa huyền bí và cũng quá nhiều sỗ sàng, đã vượt quá khỏi hàng rào của ý thức. Có như vậy, bạn và tôi mới thấy được trái tim của mình và tâm tình người mình yêu thương. Chân thật hay giả dối, chúng ta cần phải bình tâm lắng nghe tiếng nói của trái tim dưới sự buông xả của ý thức linh mẫn.
Ngược lại, bạn phải ý thức rằng, bạn còn rất nhiều tánh xấu trong cuộc sống tình yêu chứ, nào: ghen tuông, tham lam, ích kỷ, giận hờn, cố chấp và nhất là chỉ sống trong thế giới của thức vọng tưởng xa rời thực tế. Tại sao vậy, không chỉ riêng bạn và tôi mà hầu hết trong mỗi chúng ta đang đối diện với chúng. Bởi vì, lòng ích kỷ (Ngã sở) là một trong những thuộc tính của con người, của tình yêu. Từ lòng ích kỷ xuất phát, bạn và tôi yêu nhau rồi chăm sóc lẫn nhau, rồi ghen tuông, cố chấp và cố nắm bắt những gì chỉ có lợi cho mình nhưng làm tổn hại đến người khác, cũng phát xuất từ thuộc tính này.
Sự thèm khát dục vọng ảo tưởng đã chế ngự quá lớn trong trái tim của mình, khiến cho chúng ta không nhận thấy được vị ngọt giả dối trong tình yêu và cứ thế, chúng ta không dám nhìn nhận sự thật, từ đó tình yêu thuở đầu nó đã là một sự kết hợp ảo tưởng, lại được phủ lên lớp sơn tự ngã bao phủ và nuôi dưỡng chúng lớn lên trong từng ngày.
Như vậy, chân thật hay giả dối là do thái độ sống sai khác của mỗi con người mà có sai khác. Lẽ tất nhiên, bạn và tôi không thể gạt bỏ hết đường đi của trái tim, vì nhiều lúc những đường đi chi li, ngóc ngách ấy làm cho trái tim sinh động hơn, mầu nhiệm hơn. Tuy nhiên, nhận thức được bản chất của tình yêu và cộng thêm một chút lượng thứ nữa, bạn và tôi và tất cả trong chúng ta sẽ say đắm và yêu thương nhiều hơn nữa. Từ đó, tình yêu sẽ thật sự vi diệu.
Tình yêu là một báu vật kỳ lạ, xuất hiện từ thuở vừa có trời đất và con người, cũng dễ nắm giữ và cũng dễ dàng đánh mất nó. Tình yêu thuở ban đầu cũng không chứa đựng màu sắc đau khổ hay hạnh phúc, chân thật hay giả dối khoảng cách này dài ngắn tùy thuộc vào nhận thức của mỗi con người. Có quá nhiều người hạnh phúc với tình yêu mà mình đã xây dựng và cũng khá nhiều người đau khổ bởi chúng.
Như thế, bạn có thấy nó hệ trọng lắm không, lá thư viết ngắn này chỉ là một vài dòng trong toàn tập đồ sộ nói về tình yêu thôi bạn nhỉ?
----------------------
HÃY ĐEM ÁNH SÁNG GIÁC NGỘ ĐẾN VỚI TUỔI TRẺ HÔM NAY
Anh sáng giác ngộ được hiểu như là một sự dập tắt vô minh, vọng tưởng điên đảo trong tâm trí của con người, là sự biết rõ sự thật về nguyên nhân và kết quả, nhận thức và hành động, con người và môi trường xung quanh. Giác ngộ là sự hiểu biết chân chánh, thấy rõ bản chất như thật của sự vật, vạn pháp. Giác ngộ còn có nghĩa là đoạn tận khổ đau, dứt trừ những tập khí phiền não bao trùm đời sống của con người trong nhiều kiếp sống, là sự thoát ly những con đường dẫn chúng sanh lên xuống trong sáu nẻo luân hồi trong vô minh bừng cháy. Người giác ngộ là người hiểu rõ thực tướng của vạn pháp là khổ - không và vô ngã, thấy được bản chất của cuộc đời nằm trong vòng dây chuyền nhân duyên, trong quy luật có mặt, tồn tại, sai biệt, hủy diệt và thấy được con đường dẫn đến hạnh phúc, an lạc ngay tại cuộc đời.
Ánh sáng giác ngộ chiếu soi vào thực trạng hai mặt của đời sống con người hiện tại, những vấn đề tiêu cực của thế giới hiện nay như: tật bệnh, đói khát, hận thù, chiến tranh, bùng nổ dân số, bạo lực, khủng bố, lối sống thác loạn, tuổi trẻ mất hướng đi, lao vào vòng xoáy tội phạm v.v... mà chúng ta đang đối diện đó chính là kết quả của niềm khát khao vô hạn, ở đó con người luôn phải đấu tranh với sự thôi thúc của dục vọng và tham ái. Sự vật lộn của con người giữa cái xấu và cái đẹp, giữa hạnh phúc và đau khổ, giữa lý tưởng và thực tế để tồn tại trong thế giới tinh thần và vật chất là một tất yếu hai mặt trong cuộc đời. Kết quả của niềm khát khao vô hạn này bộc phát nhanh chóng hơn bao giờ hết, chúng đang được báo động ở mức độ quan tâm khẩn cấp trên phạm vi toàn cầu vượt qua khỏi sự kiểm soát của mỗi quốc gia. Thế giới loài người đang đòi hỏi sự đóng góp của tất cả trách nhiệm cá nhân bằng hành động thực tiễn chứ không phải trên lý luận bàn tròn, hay trên suy nghĩ viển vông để tìm nhiều phương cách cứu chữa khiếm khuyết này.
Xét ở khía cạnh khác trong đời sống hiện nay, kỹ thuật công nghệ của khoa học, sự bùng nổ thông tin, kinh tế vật chất phát triển, đã mang đến cho con người có đời sống sung mãn hơn. Con người trong thế giới hôm nay có thể gần gũi với nhau nhanh chóng, tất cả những điều này đã đóng góp vào đời sống thêm nhiều tiện ích. Bên cạnh nhiều tiện nghi thuộc về vật chất này, cuộc sống đang đòi hỏi con người cần phải vận dụng toàn bộ ý thức và khả năng đang có, để có đủ tư thế sẵn sàng tiếp nhận những thuận hay nghịch mà hai mặt của xã hội mang đến. Khát vọng tất yếu của con người là cần phải đấu tranh nhiều hơn nữa để giành lấy phần thắng về cho mình nhằm sinh tồn. Điều ấy đã chuyển tải đầy đủ nội dung tâm tranh giành, ích kỷ và tham vọng, cấu xé lẫn nhau, để thỏa mãn tham ái ẩn chứa bên trong của mỗi con người. Do dó, xã hội hiện nay được hiểu như là sự cố gắng toàn diện để có được những tiện nghi vật chất, đôi lúc làm cho con người càng xa cách nhau nhiều hơn về mặt tinh thần.
Từ sự hội tụ này, lòng tham của con người sẵn có từ lâu nay có dịp bùng phát một cách mãnh liệt hơn bao giờ hết. Người có được nhận thức nhạy bén, có nhiều cơ hội, mánh khóe thì sẽ có nhiều phần thắng, có đủ điều kiện thì sẽ được thăng hoa; ngược lại kẻ thiếu nhận thức thì thua lỗ, thiếu điều kiện, mưu lược và ý chí thì thất bại. Kết quả sự tranh giành này bằng nhiều cách khác nhau theo hướng có lợi cho mình, bất chấp hậu quả sẽ ra sao chính là nguồn gốc của ích kỷ, đấu tranh, hận thù và cuối cùng đưa tất cả mọi người vào ngõ cụt. Đây là hệ quả tất yếu sản sinh ra sự tàn phá, hủy hoại lẫn nhau và những tiêu cực trong đời sống cá nhân ngày càng tăng trưởng. Con người đã dần đánh mất đi khả năng phát triển lòng thương người khác, chỉ biết mình và làm sao thỏa mãn cho cá nhân mình. Sự mong muốn và lòng khát khao thỏa mãn vô hạn, thiếu hiểu biết chính xác về mối tương duyên nhân quả, quan niệm sống què quặt này là nhân tố quan trọng đã dẫn nhiều lớp người, nhứt là tuổi trẻ hôm nay, thế hệ tương lai của nhân loại đến vong thân, vong bản, vong tâm, lan tràn từ một gia đình nhỏ bé đến xã hội rộng lớn.
Mặt khác, đạo đức-văn hóa truyền thống dân tộc và gia đình cũng đang trên đà xuống cấp trầm trọng. Hiện trạng lối sống giới trẻ hôm nay trở nên càng khó hiểu, phức tạp, biến tướng đã làm ưu tư hơn cho chính mỗi người, tạo thêm nhiều lo âu cho tầng lớp người có trách nhiệm, thêm gánh nặng đè lên vai của cha mẹ và xã hội. Tuổi trẻ hôm nay được nhiều thuận lợi hơn thế hệ cha ông khá xa nhưng phần lớn lại đánh mất hoặc lãng quên phần nhận thức cơ bản đâu là cội nguồn chân thiện mỹ vấn đề sinh tồn, của văn hóa lối sống lành mạnh và văn minh ứng xử mà từ lâu được xem là tiêu chí tạo nên sự bình an và hạnh phúc. Hiện tượng tuổi trẻ có lối sống bất mãn, thích hưởng thụ, bán mình, lao vào nghiện ngập, không biết ngày mai, đánh mất lý tưởng sống cao đẹp, tham gia vào sự kiếm tiền bằng nhiều cách đen tối, sát phạt lừa đảo lẫn nhau để mưu cầu lợi nhuận, sống vội vã, sợ hãi, phát sinh nhiều loại tội phạm mới từ gia đình, để mưu cầu xã hội và thế giới.
Đời sống tham vọng quá độ, lòng khát khao chiếm hữu, tâm chiến tranh và hận thù, sự đa oán và si mê nhục dục… là những thuộc tính ô nhiễm của con người mà đạo Phật gọi chung là vô minh, phiền não. Những hành động đen tối, những tâm lý tiêu cực luôn có mặt trong mỗi chúng ta, nó sẽ tuôn trào như thác đổ mỗi khi con người đối diện với sự mê hoặc của thế giới vật chất. Nguyên nhân chính bắt đầu từ sự nhận thức sai lầm của con người bị lôi cuốn sa đọa bởi khát ái và vô hạn nơi mỗi con người. Từ sự nhận thức sai lầm về thế giới, nguồn gốc và bản chất của sự vận động xã hội, con người chỉ nhận thấy được những kết quả tức thời mà không thấy được hậu quả lâu dài ở tương lai. Có thể nói, lối sống của sự giàu sang, tiện nghi mà con người đang hướng đến để chiếm hữu, bản chất của nó luôn song hành vị ngọt và sự nguy hiểm. Vị ngọt và sự nguy hiểm của vật chất chính là hai mặt của một thực tại sống mà con người đã không nhận ra chính xác, cứ bám chặt vào vị ngọt mà không thấy được sự nguy hiểm và có cách để buông xả vị ngọt ấy, đồng thời không có cách nào để đối diện với hậu quả của sự nguy hiểm. Do vậy, khi hậu quả bất an đến với mỗi người thì đó chính là sự đau khổ đã ập đến. Đau khổ hơn, không thể có con đường thoát ly, và biết cách thoát ra khỏi chúng. Đấy chính là hiện trạng đang phổ biến của giới trẻ. Không phải tuổi trẻ ngày nay không biết dấn thân, mưu sinh lương thiện, nhưng khi khổ đau xuất hiện trong đời sống thì họ không tìm ra lối thoát. Bởi giới trẻ không nhận ra con đường thoát khổ, cứ thế mỗi ngày bị nỗi khổ đe dọa, sợ hãi chồng chất, mất lòng tin vào cuộc đời và tự đánh mất chính mình. Con đường dẫn đến vong thân của tuổi trẻ là điều tất yếu, kết quả cuối cùng là thế giới con người nhận lãnh hậu quả do họ gây ra, trong đó vai trò của gia đình và xã hội không nhỏ vì đã nuôi dưỡng và xây dựng những hạt giống này.
Dưới ánh sáng giác ngộ, đạo Phật cung cấp cho con người cái nhìn tỉnh táo để đủ khả năng đối diện với bản thân và những gì đang diễn ra xung quanh. Những kinh nghiệm về sự thật cần phải được trang bị, học hỏi. Nhận thức chính xác về thế giới chúng ta đang sống chính là một thế giới ảo tượng và chỉ tạm bợ, một thế giới không thật có, chúng tan rã trong từng giây phút, và chỉ hiện hữu khi tất cả các duyên hòa hợp, do vậy chúng cũng dễ dàng mất đi. Ánh sáng giác ngộ của đạo Phật cho biết rằng tấm thân con người đang có và môi trường xung quanh là một chuỗi nhân duyên chằng chịt, nó hiện hữu khi hòa hợp và tan rã khi xung đột. Những gì mà con người đang có và đang thấy không kiên cố, bất an, dễ vỡ và hàm chứa chung một bản chất là bất tọai ý, nghịch với sự mong muốn của tất cả các ước vọng, dù khao khát ấy ngắn hay dài, hữu hạn hay vô hạn. Trên căn bản mọi sự mọi vật không có một đặc tính nhất định, nó chỉ là một sự kết hợp "cái này có thì cái kia có, cái này không thì cái kia không", từ đấy không ai đủ khả năng nắm vững một cái gì trong ý muốn của mình, bởi lẽ bản chất của ý muốn cũng luôn luôn thay đổi, ý thức cũng chỉ là một chuỗi nhân duyên vốn dĩ vô thường và bất định. Con người chạy theo ý muốn và lòng tham vô hạn cũng như thể chạy theo bóng mình giữa ban trưa nắng gắt, chỉ có ảo chứ không thật có. Những ai cố tìm kiếm để nắm giữ nhưng khi nắm giữ được thì tức khắc bị tan biến. Đó là một sự thật, chúng ta cần phải cung cấp cho giới trẻ thấy được sự thật đó.
Do vậy, để tuổi trẻ hôm nay có cái nhìn chân xác về cuộc sống mà họ phải và sẽ đối diện, không bị đắm chìm trong dục vọng thôi thúc và vượt thoát những cạm bẫy trong đời sống, không sợ hãi, không mất phương hướng, chúng ta cần phải trang bị cho tuổi trẻ những hiểu biết về bản chất của cuộc đời. Không thể có được một cuộc sống hạnh phúc được thiết lập từ những vật chất đang có mà quên lãng đi đời sống tinh thần. Nếu mất đi phương hướng của tinh thần và sự giáo dục nội tâm vững chãi thì dù có nhiều vật chất chăng nữa cũng không thể gìn giữ được và tạo dựng được một cuộc sống an bình huống hồ một đời sống hạnh phúc. Thông thường, tuổi trẻ có thể nhận thức rõ ràng cái gì xảy ra trước mắt với tâm tính hăng say của họ, nhưng quên mất hậu quả của nó, giống như chúng ta nói chỉ biết nhân mà không biết quả.
Như vậy, trước nhất về sự giáo dục tự thân, tuổi trẻ phần lớn thường sống theo mong muốn và đeo đuổi theo ước vọng của mình một cách độc lập. Sự tích cực hăng say trong học tập, công việc, lý tưởng dấn thân của tuổi trẻ là điều đáng quý, đáng trân trọng, tuy nhiên bên cạnh đó, vì thiếu kinh nghiệm đối diện với cuộc đời, và nếu thiếu một căn bản giáo dục đạo đức vững chắc, cũng dễ dàng đưa họ đến những thất bại. Do đó, chúng ta cần phải quan tâm trang bị cho tuổi trẻ những hành trang cần thiết mà họ buộc phải có, để khi đối diện với những tình huống tiêu cực xảy ra họ có thể có đường lối thoát ly hoặc lựa chọn. Trong chiều hướng giáo dục này, gia đình và xã hội là những nhân tố ban đầu cung cấp những bài học cần thiết về ý thức bản thân, dựa trên nguyên tắc đạo đức nhân quả và nghiệp lực, mình làm mình chịu, và tự nhận lãnh trách nhiệm của hành động chính mình, chứ không ai khác. Hãy cho tuổi trẻ biết rằng, gia đình và xã hội chỉ là những đóng góp trong phần nhận thức của họ, chứ không phải là những liên quan có thể chia sẻ hoặc nhận lãnh hậu quả cùng chung với họ trong một tương lai hoặc gần hoặc xa.
Tuy nhiên, môi trường và hoàn cảnh xung quanh, theo ánh sáng duyên khởi thì ở một mức độ nào đó cũng là một yếu tố cần thiết tạo nên sự thành công hay thất bại ban đầu của tuổi trẻ. Do vậy, là những người có trách nhiệm làm cha mẹ và hệ thống giáo dục của xã hội cần phải tác động vào ý thức của lớp trẻ hơn nữa. Gia đình phải thật sự là một chỗ dựa tin cậy và là điểm tựa để trở về của tuổi trẻ khi thành công hay thất bại. Gia đình phải là nơi chốn để chia sẻ những khó khăn mà tuổi trẻ đang vướng mắc. Gia đình là nơi mà tuổi trẻ có thể đứng dậy sau nhiều lần vấp ngã, phải là chốn mà họ có thể được thương yêu và đùm bọc. Xã hội cũng thế, một xã hội an toàn là một xã hội trong đó, sự quan tâm đến nhiều mặt của con người là quan trọng, không phải chỉ tạo cơ hội gặt hái của cải là đủ mà phải biết tranh đấu để phát triển cái thiện và loại trừ cái xấu ở bất cứ mọi nơi. Thế giới xung quanh chính là nơi nuôi dưỡng và phát triển tiềm năng vô biên của con người và cũng là nơi con người đánh mất tiềm năng đó. Nếu một xã hội luôn đầy dẫy những cạm bẫy và chứa đựng những thói hư tật xấu, tạo dựng những sân chơi thiếu lành mạnh thì dĩ nhiên tuổi trẻ sẽ hoàn toàn mất phương hường và sẽ không còn khả năng tin tưởng vào môi trường sống của họ.
Dưới ánh sáng giác ngộ, thế giới thực tại là một hình ảnh sống động luôn luôn trôi chảy nhưng không mất đi một phân hào nào, bởi vì thế giới luôn được chuyển tiếp trong quy luật duyên khởi. Không có gì tồn tại vĩnh cửu, và không có gì được che giấu trong thế giới này. Bức tranh cuộc đời là một thực tại khách quan diễn tả đầy đủ nguyên lý này. Trong đó thiện ác luôn đối đầu, nguyên nhân và kết quả diễn ra liên tục, cái thiện luôn thắng cái ác. Chúng ta cần nên hướng dẫn cho tuổi trẻ biết rõ những nguyên tắc đó. Làm người dù sống trong hoàn cảnh nào, cũng không thể rời thế giới thực tại và chỉ nương tựa vào sự thôi thúc của dục vọng, ước muốn mà có thể tạo dựng hạnh phúc. Phải cho tuổi trẻ biết rằng thế giới thực là thế giới ở đó con người phải xây dựng nó bằng cả tâm huyết của mình, bằng cả sự nỗ lực không ngừng chứ không phải dựa trên sự sáng tác của người khác, rồi để hưởng thụ. Cái giàu sang và cái đẹp phải tự mình sản sinh ra nó, chứ không ai khác. Con người là nền tảng căn bản quyết định về thế giới xung quanh chứ không phải hoàn cảnh tạo nên chính họ. Thế giới thực là thế giới con người sống với toàn bộ tuệ giác và từ bi.
-------------------
THẾ GIỚI HOAN CA
Hạnh phúc thay chư Phật ra đời!
Xã hội Ấn Độ thời Đức Phật đản sinh, nằm trong một trạng thái đen tối và nhiều đau khổ. Sự u ám đó không phải phát sinh đơn thuần từ nghèo đói, bệnh tật mà chính là sự bế tắc từ tư tưởng con người. Biết bao học thuyết được dựng lên nhằm góp phần xóa tan nỗi khó khăn này bởi những nhà tư tưởng, tôn giáo, đạo học, tuy nhiên vẫn không chữa được căn bệnh mà con người đang vướng phải trong tâm thức của họ. Đó là sự bế tắc trong suy nghĩ, cuộc sống và trong thế giới con người họ đang cố vươn lên để tự khẳng định lấy mình, và trong hoài niệm một cõi hạnh phúc trần gian, chứ chưa nói đến một cõi thiên đường nào đó xa xôi.
Trước khi thái tử Tất Đạt Đa đản sinh và cho đến hôm nay, nền văn minh Ấn Độ vẫn được xem là một trong những chiếc nôi tạo nên nền văn minh của nhân loại. Nơi đây, một thời đã có rất nhiều triết thuyết đua nhau trổ hoa như vườn hoa đầy màu sắc, xuất hiện nhiều nhân vật lỗi lạc, minh triết làm tấm gương cho loài người soi rọi. Thế mà, cũng chính nơi đây, sự không bình đẳng trong giai cấp, giàu nghèo, địa vị, sang hèn, đen trắng có một khoảng cách quá lớn. Những hệ tư tưởng đó đã không mang lại nhiều ích lợi cho con người, không tháo gỡ được nỗi bất an trong cuộc sống, ngược lại những đau khổ, cuồng loạn cứ như bị chồng chất. Những hệ tư tưởng ấy được Đức Phật diễn tả đầy màu sắc bao gồm sáu phái triết học và những tôn giáo khác. Vậy mà, không có một sự đóng góp nào trong niềm khát vọng và ước mơ của con người, đó là được sống hạnh phúc bởi tạo dựng một thế giới hòa bình, xây dựng một đời sống an lạc và thịnh vượng là một niềm khát khao muôn thuở của nhân loại.
Đức Phật ra đời, những lời dạy của Ngài phải chăng là lời giải đáp cho sự tìm kiếm và trao chìa khóa để con người mở tung cánh cửa cuộc đời để thực hiện ước mơ của mình, tạo dựng một thế giới an bình cho nội tâm và ngoại cảnh.
Thật vậy, Đức Phật đã từng tuyên bố: "Không có giai cấp trong nước mắt cùng mặn, máu cùng đỏ". Một lời tuyên bố như một sự khẳng định minh triết, một bản tâm ca đời sống của nhân loại. Vì con người không nhận chân được lòng tự quyết của chính mình và đã phủ nhận tánh linh cao thượng của người khác. Dẫu biết rằng, ai cũng có Phật tánh và ai cũng đều có thể trở nên cao thượng. Cao thượng hay thấp hèn, tất cả đều do quyết định của chính mỗi người. Không một Thượng đế ban phát, không một thần linh đặt để và không một thế lực bên ngoài nào có thể tạo ra sức mạnh cao hạ cho người khác, và cuối cùng không có một quyền năng siêu nhiên nào có thể mang lại hạnh phúc hay đau khổ cho loài người. "Chỉ có ta làm cho ta ô nhiễm và chỉ có ta làm cho ta trong sạch" và "chỉ có ta làm cho ta hạnh phúc hay đau khổ".
Lời minh triết của Đức Phật đã tháo gỡ mọi xiềng xích, phá tung mọi ràng buộc, vướng kẹt của con người, tháo gỡ một hệ thống mà tư tưởng nội dung hàm ý Thượng đế là trên hết, thần linh là sáng tạo và cao cả.
Từ hệ tư tưởng "thần thánh" này bao phủ, con người cảm nhận mình trở nên nhỏ bé, và càng nhỏ bé thì hạnh phúc hay đau khổ - những vấn đề lớn của cuộc đời, con người không thể giải quyết được. Và cuối cùng là sự an phận, trong sự đen tối và tủi nhục, bởi sự thật thần thánh và Thượng đế không hề có sức mạnh, phép mầu như con người tưởng tượng ra.
Sự ra đời của Đức Phật đáp ứng được ước mơ của con người thời đại ấy và cho đến hôm nay, về sau, Ngài đã mang đến cho chúng ta một thông điệp an bình là cho đến khi nào con người còn biết rằng trong ta và trong mỗi người đều có sức mạnh chuyển hóa. Chuyển hóa từ sự nhận thức tầm thường của dục vọng, từ sự tham muốn thúc đẩy của dục ái, và từ sự tham muốn dứt khoát xả bỏ tư duy giữa cái ta và cái của ta, thì lúc ấy con người đã nắm lấy được thông điệp của Ngài và đi đến bên bờ hạnh phúc.
Đức Phật đã dạy cho chúng ta rằng, từ sự nhận thức và hành động có chủ đích của chúng ta trong hiện tại cũng như trong quá khứ như thế nào thì cánh cửa hạnh phúc hay đau khổ sẽ đón nhận chúng ta như thế đó. Chẳng một ai khác có thể cho chúng ta và nhận lãnh cho chúng ta điều này, đừng bao giờ hão huyền, lầm lẫn. Xác định vững chắc như thế, thì chúng ta đã thấy được một thế giới mà trong đó tâm tưởng và hình hài của chúng ta được xây dựng một cách hoàn hảo, hay bóp nát chính từ ngay chúng ta chứ không ai khác.
Bản An bình ca được thâu tóm như một lời minh triết của Đức Phật trao đến lòai người, đã làm bùng nổ, tan vỡ một hệ tư tưởng ràng buộc đã ăn sâu trong tâm trí của con người, và đã đưa chính họ vào ngõ cụt, không cửa thoát trong vòng tròn ưu phiền của đời sống và luân hồi sinh tử. Sự giải thoát ra khỏi hệ lụy của một hệ tư tưởng thần thánh đã mang đến nhiều hạnh phúc cho nhân loại, không những ở trước ngay thời điểm Đức Phật đản sinh, của những người con Ấn Độ thầm lặng mà cho đến tất cả mọi người trên thế giới bất kể đó là nam hay nữ, màu da, giai cấp và địa vị ngày hôm nay. Nếu chúng ta hiểu biết về sự bình đẳng, và mang chúng sống trong thế giới tương quan tương duyên này thì một điều chắc chắn hiện ra là không có sự đau khổ dằn vặt, mâu thuẫn giữa con người và con người với nhau.
Nhận thức được sự cao quý từ bên trong con người, sự bình đẳng đã có của mỗi người, quyền được sống ấm no, quyền được tái tạo gia đình và xã hội, quyền được cất lên tiếng nói tự đáy lòng thì chúng ta sẽ thấy được sự tham sống và mưu cầu hạnh phúc của kẻ khác, chiến tranh sẽ chấm dứt, khát vọng làm não hại con người sẽ được loại trừ, và tình yêu thương đồng loại sẽ được tăng trưởng.
Tình yêu thương đồng loại là một thuộc tính luôn có trong trái tim của con người, nó đồng hành với sự căm thù, và vô số thuộc tính khác, tuy nhiên con người không dám mạnh dạn loại bỏ những thuộc tính tiêu cực và phát triển sự yêu thương đó. Ngược lại, con người lại mong muốn trong ý thức hay vô tình gây tai họa cho đồng loại, muốn cường bá và muốn hơn thua cao hạ để khẳng định cái ta, một cái ta ảo ảnh mà cứ lầm tưởng đó là sự thật, và đó là trên hết. Nhưng thật sự, cái ta con người vin vào ấy chính là tập hợp của vọng tưởng điên đảo tạo thành, của kết tinh sự tham lam, sân hận, tập khí của ngu si, kiêu hãnh dựng nên để rồi chúng ta lầm lẫn bám víu vào chúng làm đời sống thật của mình để cuối cùng làm đau khổ cho nhau, cho đồng loại cộng tồn.
Vì không nhận thấy được lòng yêu thương vô bờ bến có sẵn bên trong của chúng ta, do đó chúng ta cứ sẵn sàng sử dụng mặt tiêu cực của tâm để gây chiến và phá hủy, trong đó môi trường, sự an sinh xã hội, sự nghèo đói lan tràn, đầy dẫy bệnh tật là hệ quả kéo theo bắt nguồn từ việc sử dụng mặt trái tiêu cực của mỗi con người. Và cuối cùng đã đưa thế giới chúng ta đang sống đến ngõ cụt trong sự bất an vẫn là bất an.
Cho đến khi nào con người biết vận dụng triệt để sự bình đẳng và lòng yêu thương này trong cái nhìn thật sâu sắc, có tư duy trong hành động dưới sự giám sát của tâm thức an tĩnh, bất hại trong cuộc sống ở đó là một sự tương quan của đồng loại không thể tách rời hay lọai trừ, thì lúc ấy ước mơ của con người được sống trong một thế giới thịnh vượng, hòa bình mới có thể khả dĩ được kiến tạo. Còn ngược lại, chúng ta chỉ tạo thêm nhiều đau khổ với nhau. Sự rêu rao hòa bình chỉ nằm trong sách vở, tâm tưởng và nằm trên bàn tròn của những kẻ tham vọng không bao giờ được hành động, có chăng là tấm lòng của những người được học những bài học tình thương sâu sắc, và ý thức được sự sinh tồn-yên ổn không bệnh tật, di căn của nhân lọai trong thế giới hiện tại và cho lớp người mai sau, mà họ đã quên mình xông pha vào chốn nguy hiểm, trong đó mạng sống chỉ là tơ chỉ.
Kỷ niệm ngày Phật đản sinh, chúng ta hãy cùng nhau đọc lại Thông điệp An bình của Đức Phật, và hãy hành động đưa thông điệp này vào trong mỗi con người, gia đình, quốc gia, và hãy làm cho thông điệp ấy được sáng tỏ như là cương lĩnh sống và hành động của tất cả mọi người, thì chúng ta sẽ thấy rằng trí tuệ siêu tuyệt của Đức Phật xuyên suốt thời gian đã đi cùng với ước mơ muôn thưở của loài người.
Nơi đây, thế giới sẽ cất tiếng vang ca lời hạnh phúc, yêu thương mà Đức Phật, một vị Thầy dẫn đường đã chỉ cho chúng ta thấy được cách đây hơn 2.500 trước, cho đến thời điểm này lời dạy ấy càng vang vọng trầm hùng đến độ nào, con người vẫn còn khao khát ước mơ đến chúng và luôn mong mỏi cho tất cả mọi người thực hiện chúng. Đây mới chính là niềm vui lớn, một niềm hạnh phúc cao cả chân thật vì chính chúng không bị chi phối bởi dục vọng của chúng ta. Niềm vui Đức Phật đản sinh. Niềm vui ánh sáng của Ngài đến với nhân loại. Niềm vui có những người luôn âm thầm thực hiện chúng. Niềm vui chúng ta biết nghĩ và biết biết sống trong tình thương không biên giới vô giai cấp. Một niềm vui xuất phát trong tâm thế bình đẳng.
-------------------------
BÓNG HÌNH TĂNG SỸ PHẬT GIÁO
Chúng ta thấy rất rõ, từ cái nhìn của một người dù không phải là Phật tử , khi họ thấy chiếc y màu vàng đắp trên người của các vị Tăng Phật giáo, họ vẫn dễ dàng nhận biết được đó là tu sỹ Phật giáo, một cái nhìn quán tính, đã ăn sâu trong ký ức của mọi người. Đó là hình ảnh hiện thân của Đức Phật, và ngày này vẫn được tiếp nối trong Phật giáo. Ít nhất, hình bóng này, người bình thường cũng dễ dàng nhận biết và phân biệt được. Như Phật tử chúng ta có dịp thấy chư Tăng Nam tông ở các nước theo truyền thống Nam tông như Thái lan, Tích Lan, Miến điện, Lào và Campuchia v.v... và một bộ phận nhỏ ở Việt nam.
Đầu tròn áo vuông cũng là một hình ảnh quen thuộc khác để nhận biết đó là tu sỹ Phật giáo dù Nam hay Bắc tông Phật giáo. Tuy nhiên, Tăng sỉ Bắc tông thì đa dạng hơn về màu sắc, và hình thức pháp phục. Từ sự đa dạng này, đã làm cho nhiều người lúng túng và khó phân biệt, thậm chí có nhiều người Phật tử cũng khó khăn để giải thích đến khi có ai đó hỏi để tìm hiểu.
Thử nhìn về Phật giáo Đài loan, quốc gia có một truyền thống Phật giáo Bắc truyền, nhưng chúng ta cũng rất dễ nhận biết, bởi lẽ họ có đồng phục. Chiếc áo dài màu lam, được may theo kiểu thông y (gọi theo Việt nam) mang dày, bít tất ống quần cho cả tăng và ni khi họ ra đường. Có chung truyền thống đó là Phật giáo Bắc tông Trung Quốc và Singapore. Sự đồng bộ này nói lên tính đặc thù về hình thức, mạnh về tổ chức, thể hiện được nét đẹp từ cái nhìn bề ngoài của một Tăng đoàn và tổ chức giáo hội. Người “ngọai đạo” một lần biết được khi nhìn thấy hình bóng chư Tăng ấy thì sẽ mãi không bao giờ lầm lẫn, và nghi ngờ.
Riêng Việt nam, vẫn là đầu tròn, áo vuông, chúng ta có một pháp phục thông thường để đi đường là chiếc áo nhựt bình và cả áo thông y, màu sắc chính là màu đà và màu lam. Trong hiến chương của Giáo hội Phật giáo Việt Nam cũng đã có quy định rất rõ về màu sắc, kích thước, kiểu dáng dành cho cả Tăng-Ni và thứ phẩm khác nhau, rạch ròi và rõ ràng. Tuy nhiên, nhiều người vẫn còn khó hiểu, và khá nghi ngờ về sự hiểu biết của mình trong sự xác định Tăng sỉ Bắc truyền Việt Nam. Đủ màu sắc, kiểu áo không có sự rõ ràng về trang phục, gọi chung là cách ăn mặc tùy tiện, của một bộ phận nhất là Tăng-Ni trẻ hiện nay.
Sự tùy tiện này, một cách tế nhị trong cái nhìn đánh giá Giáo hội chúng ta tổ chức thiếu chặt chẻ, không có kiên quyết, kiên định. Sự dễ giải trong cách ăn mặc bắt đầu từ cơ sở tự viện, bổn sư, trụ trì, một yếu tố khách quan nữa cho rằng cúng gì mặc đó, có gì thì mặc vậy. Sự tùy tiện này, vô tình thể hiện tính chất bất phục tùng của một cá nhân trong một tổ chức, và đặc biệt là chúng ta đã tự mình đánh mất cái đẹp đã có truyền thống từ lâu.
Với một vài suy nghĩ, hy vọng rằng để đáp ứng lời kêu gọi “Chỉnh đốn Tăng già”của các bậc tôn trưởng, và trong hoài bảo xây dựng một Tăng đoàn vững mạnh của tập thể Tăng-Ni hiện nay, cũng như trong trào lưu xã hội. Tăng sỹ chúng ta hãy nhận định lại từ việc nhỏ này và nên có một sự chuyển biến, chỉnh đốn, trong sinh họat đời thường, để tạo một sức mạnh đoàn kết, thống nhứt từ tư tưởng đến hành động. Hãy trang nghiêm những việc thật nhỏ bé, rồi trang nghiêm Giáo hội và trang nghiêm Quốc độ.
---------------------------------
TUỆ TRUNG THƯỢNG SĨ: KẺ NGÔNG CUỒNG TRONG ĐÔI MẮT PHÀM TÌNH
Sống và Chết là hai vấn đề tối trọng. Đã biết bao nhiêu nhà tư tưởng, triết gia cho đến hàng thứ dân, tất cả đã tốn nhiều công sức, bút mực, và để tâm tìm hiểu đến vấn đề này. Thế mới biết sống và chết thật hệ trọng biết bao, cho thân phận con người trong trần thế. Đây quả là những điều hết sức căn bản trong đời sống mà con người luôn tự hỏi với chính mình và thế giới chung quanh. Sống làm gì? Thế nào? Và chết sẽ đi về đâu? Có phải chăng sống và chết là một hiện tượng, như bao hiện tượng khác biểu hiện trong thế giới tự nhiên không một may may chống trái.
Tuệ Trung Thượng sĩ là một con người như bao con người khác sinh ra và lớn lên, già chết không ra ngoài quy luật nghìn đời. Đó là quy luật đổi thay - Vô thường của vũ trụ bao la. Nhưng tại sao chính ngay cái bình thường ấy, ông là kẻ khác thường. Khác thường trong hành động, trong sự suy nghĩ, đời sống cho đến nỗi chúng ta dễ lầm lẫn ông là kẻ ngông cuồng khi chưa hiểu rõ về Ông.
Nguyên tố nào đã cấu thành một con người Thượng Sĩ? Động cơ nào đã thúc đẫy ông dám vứt bỏ, quay lưng với vở tuồng lớn đang diễn ra hết sức sôi động trên sân khấu cuộc đời. Đây có phải là một nguyên tố:
Hình hài suy yếu đâu phải là chuyện đáng buồn
Cũng không phải chim hạc lánh đàn gà
Nghìn màu xanh, muôn vẽ thúy tràn ngập làng nước
Góc bể bên trời là nơi nuôi dưỡng chân tánh của ta.
( Dưỡng chân- Đỗ Văn Hỷ dịch).
Trong cái bình thường, Sinh-Lão-Bệnh-Tử là một quy luật hết sức tự nhiên. Chuyện đã tự nhiên thì có đáng gì để quan tâm, ở đây điều mà Thượng Sĩ quan tâm chính là làm sao để tìm cho bằng được một con đường để hòa nhập với cái mênh mông của vũ trụ. Góc bể bên trời là nơi có thể dong thuyền thực hiện một chuyến đi vào cỏi bao la vô tận của đại dương, kẻ ngông cuồng Thượng sĩ đó đã chọn bến cho con tàu của mình.
Vì đã lấy giả tạo thêm cái giả khác, cái đau buồn bi thảm khi phân ly, sự mất mát làm thú đau thương để nuôi dưỡng mạng sống; con người đã lầm nhận giặc là bạn, đã nuôi ong tay áo trở lại hại mình. Sống chết là trò hề, là cái huyễn được tạo ra ngay trong cuộc đời, thế mà con người cứ bám víu vào nó, thấy rõ được điều này một con người tầm thường đã biến thành Thượng Sĩ.
Cho đến thấy rõ được mặt thật của cuộc đời (Pháp nhĩ như thị), Thượng Sĩ vẫn chưa lấy làm tự mãn, và thọ hưởng những gì ông đã đạt được. Cuộc đời - Thế giới muôn màu sắc, sở dĩ nó đẹp - Chính là nó luôn luôn biến đỗi và chính nó biết phủ định lấy nó. Thượng sĩ đã không nắm giữ, bám víu và chấp nhận sự phủ phàng để quay lưng với những biến đổi không thật mà tìm đến cái gì vĩnh hằng hơn.
Sự nhận thức - Vốn dĩ nó muôn trùng, chính ngay sự đa dạng đó, Thượng sĩ đã cảm nhận được vọng thức. Sự sai lầm ở thế giới trong ta dẫn đến sự sai lầm lớn về thế giới quanh ta. Từ nơi không thấy được sự thật với chính mình, giá trị bên trong của một con người. Con người cứ rong đuổi tìm con người của mình ở bên ngoài, mượn giá trị bên ngoài làm giá trị cho mình, có biết đâu giá trị đó chính là kết quả quyết định bản lĩnh của mình.
Ngay chính nơi nương tựa thiêng liêng nhất của con nguời, điều mà con người chưa bao giờ thấy được, có chăng đó chỉ là một đức tin thành khẩn nhất. Thế mà Thượng Sĩ quả quyết chẳng ở đâu xa:
Giẫm chân tới đầu cổng chùa chưa được giây lát
Buông lời dọc ngang viết lên bài kệ
Năng gần đây, ngòi bút trở nên hờ hững
Như Lai ở ba giới cũng chả biết là thế nào!
(Đề Tinh xá - Đỗ văn hỷ dịch).
Cái lầm lẫn mà muôn đời con người cứ lầm lẫn, chính ông đã không lầm lẫn, tuyệt đích là cái biết không hai. Thực thể là thực thể, không có hai mặt trong một thực thể. Do vậy, khơi dậy được cái sâu sắc bên trong, ông đã đặt bút ngay trong bài “ Tùy cơ ứng đối”:
Vốn không tâm không đạo
Có đạo chẳng không tâm
Tâm đạo là hư tịch
Biết nơi nào trung tâm.
Tâm và Đạo chẳng ở đâu; sinh tử chính là Niết bàn; phiền não tức Bồ đề. Ngay chính Niết bàn cũng là điều hư dối, Thượng sĩ đã đánh bật nhận thức thường tình của con người. Đến và Đi là lẽ “Đạo”, lẽ thường tình, đừng nói sống mà có chết. Sống là biểu hiện của cái chết, chết là sự nẩy mầm cho đời sống mới. Nhận thức được điều then chốt ấy trong cuộc sống, thấy rõ bản chất của chính sự vật, mới có một nhận thức đúng (minh minh thường tự tại), Tuệ Trung đã có bản lĩnh làm được điều đó. Sự vi diệu của cuộc sống Thượng sĩ đã nhận chân được trong dòng chảy vô tận, đã giúp ông thấy được chính ông cũng không ngoài hiện tượng trôi chảy. Cứ thế và cứ để nó trôi êm đềm như thế, đừng ngăn cản, dại dột chết đuối bởi một dòng sông :
Thôi đừng hỏi con đường của sống và chết làm gì
Thời tiết của nhân duyên cứ thế tự nó hình thành
Mây núi đã có cái thế bay ra khỏi núi
Nước suối không tiếng nào không phải là
tiếng nước giao vào dòng suối.
Hàng năm hoa vẫn nở vào tháng ba
Sáng sớm gà vẫn gáy vào canh năm
Ai là ngườI hiểu được mặt người Mẹ
Mới tin rằng người và trời đều là giả danh.
( Thời tiết yên định - Đỗ văn Hỷ dịch).
Phật chẳng ở đâu xa - Đạo chẳng màng tìm kiếm. Chết chính là sự thay đỗi của cuộc sống, vươn lên cho sự sống thường còn chính là sự thực hiện một công trình chết. Ai đã đến và ai đã đi trong một thế giới chưa từng thay đổi:
Tâm mà sinh chừ sinh tử sinh
Tâm mà diệt chừ sinh tử diệt
Sanh tử xưa nay vốn tánh không
Chết là dối chết sinh dối sinh
………
Chớ như hươu khát nước đuổi bóng nước
………
Kẻ ngu sống chết mãi lo âu
Người trí rõ thông nhàn thôi vậy.
( Trúc Thiên dịch)
Đánh bật lẽ thường để dành lại cái “Thị thường” như thế, có phải đây là Kẻ Ngông Cuồng Trong Đôi Mắt Phàm Tình không vậy?
-------------------------
VẦNG TRĂNG AI NGÃ
(tưởng niệm về Ôn Đỗng Minh)
Hướng nhìn về vầng trăng trên cao, mỗi người trong chúng ta sẽ có rất nhiều cách nhìn và suy nghĩ khác nhau phụ thuộc vào cảm thụ, cảm thức từng người. Tùy thời điểm rung động sai biệt của con tim, vầng trăng bất động tưởng chừng như vô thức sẽ trở nên sống động và hàm ẩn nhiều ý nghĩa dạt dào. Ở đây, hình tượng vầng trăng mà tôi nói đến chính là một điểm để hướng về, một nơi qui hướng tin cậy, một nhân cách sống. Là một vầng trăng biểu tượng sự sáng ngời ở giữa bầu trời uế trược, xanh biếc bạt ngàn trong vòng xoáy nước đục bọt bèo nỗi trôi, giữa màn nhung đêm vô minh cùng tận, nhưng thanh thoát loé sáng huyền diệu lạ kỳ.
Vầng trăng tôi muốn nói đến ở đây là hình ảnh dành cho một bậc Long tượng của thiền môn. Một nhân cách có ảnh hưởng khá mạnh trong tâm thức và trong cái nhìn vào sự thật của riêng tôi. Một con người dám nhìn thẳng vào từng vấn đề cụ thể và biết thông cảm, chia xẽ. Tiếng gọi Ôn- Ôn Đổng Minh hết mực bình thường và giản dị nhưng ấm áp đến mức lạ kỳ. Tôi không biết tiếng gọi Ôn Đổng gần gũi có từ hồi nào, nhưng đối với tất cả Tăng sĩ miền trung trong thời điểm chúng tôi hay thế hệ hiện tại, Ôn thật trìu mến, và cũng quá sức nghiêm kính khi chúng tôi thoáng nhìn thấy Ôn. Tựa như, ánh trăng thì rất gần gũi tự nhiên với loài vô tình, ưu linh với loài hữu tình và chiếu sáng đến tất cả mọi nơi, nhưng cao; xa một cách hãnh diện vô bờ, thoát tục.
Thời trước, tôi thường có cơ hội được hầu cận bên sư phụ của chúng tôi và thường được tiếp xúc với những sư Chú, sư Bác - hầu hết là những cựu học Tăng xuất thân từ Phật Học viện Cao Đẳng Hải Đức Nha Trang; do đó tôi được nghe kể về nhiều hành động, phong cách sống, lối giảng dạy, cách tu tập, suy nghĩ, nhiều tâm tình dành cho thế hệ trẻ học Tăng Ni và nhiều giai thoại khác trong đời sống thường nhật của Quý Ôn như: Ôn Từ Quang ( Phước Hộ), Ôn Già lam, Ôn Trí Nghiêm, Ôn Từ Đàm, Ôn Giám Viện (Trừng Sang) Ôn Đổng Minh… Có thể nói, dấu ấn của quý Ngài đã ảnh hưởng khá sâu đậm đến tư duy của các học tăng ngày trước, thế hệ Thầy tổ chúng tôi, để giờ đây họ có đủ bản lĩnh dấn thân vào đời hành đạo. Tôi cũng như nhiều chư Tăng Ni khác hôm nay, thuộc thế hệ đàn con cháu, tuy có may mắn thọ nhận sự giáo dưỡng của quý Ngài, nhưng trên thực tế, chúng tôi chỉ thọ nhận một sự giáo dưỡng gián tiếp, vô hình; tựa như danh từ trừu tượng trong luật học thường dùng là “ Vô tác giới thể ”.
Lúc còn nhỏ, nghe quý Thầy kể đến cách giáo dục vừa dung dị, hiền hòa, hào sảng vừa nghiêm khắc của Ôn với học Tăng ngày trước. Tôi nghe sợ quá, mặc dầu lúc ấy tôi vẫn chưa được một lần hữu duyên để nhìn thẳng vào Ôn và để được hầu Ôn một tách nước. Với Ôn, tôi tựa như một kẻ lạc đường đang nhìn lên vầng trăng trên cao, khao khát tìm lại một chút ánh sáng phản chiếu chập chờn của vầng trăng trong tàn cây bụi lá, trong bóng đêm ở miền sơn cước, vừa lạnh lại vừa thảnh thơi đơn độc để tìm một lối về. Có thể do nghe kể về Ôn nhiều quá, tâm thức của tôi lúc ấy tuy còn nhỏ bé, nhưng đã có tác động mạnh, cho nên cảm thấy tự nhiên sợ Ôn làm sao, và nhiều lúc cảm thấy Ôn quá…. dữ! Ôi, nhận thức lầm lỡ một thời!
Nhớ lại, có một khoảng thời gian ngắn, tôi được sư phụ cho lên Hải đức để cùng với điệu Minh hầu Ôn Từ Đàm và ê, a học vài bài kinh chú trong hai thời công phu. Hôm đó, không nhớ cảm hứng vì việc gì, tôi cắm cúi chạy một mạch thật nhanh từ lầu chuông trên thất Ôn Từ Đàm xuống dãy nhà Tăng, thì tình cờ đối diện với Ôn, đứng sừng sững trước mặt. Tôi thất kinh đứng lại một bên và chắp tay cuối đầu đãnh lễ Ôn, không nói nhiều, Ôn nhìn tôi và bảo rằng: Bất đắt đà hài tác thinh (Không được đi dép lớn tiếng). Nhớ nghe chưa, Ôn dặn. Bạch Ôn con ghi nhớ. Rồi Ôn tiếp tục tay dù, tay quạt, chuổi hạt trên tay đi thẳng lên thất để gặp Ôn Từ Đàm. Tâm trí tôi khựng lại bởi lời chỉ giáo nhẹ nhàng của Ôn và đôi mắt vừa hiền từ vừa như nghiêm khắc, vừa chứa đựng sâu thẳm sự yêu thương, tôi ngồi bệt xuống ghế đá được đặt dài theo dãy tăng xá để trầm ngâm trong thóang chốc. Và tôi đã nhớ được điều gì? Lúc ấy, Tôi chưa được học nhiều kinh Phật, chẳng hiểu nhiều về ý nghĩa lời Phật dạy, nhưng một điều tôi được nhớ rằng Ôn Đổng hay có cách dạy chúng Tăng như vậy, nên tôi cố gắng để nhớ lời này. Đầu óc tôi lan man sau lần gặp gỡ ấy, vì sợ , sợ Ôn “mắng vốn” sư phụ tôi, sợ Ôn cho ăn roi lần sau nếu gặp lại.v.và vv.. Cứ thế thời gian trôi qua, khi đã bớt ngây thơ, khờ dạy, tôi mới biết được rằng Ôn đã dạy oai nghi cho tôi, hành trang quý báu mà tôi phải luôn khắc ghi cho đến hết cả cuộc đời. Thế là tôi đã có một biểu tượng vầng trăng soi sáng cho đời mình.
Gần hai mươi năm thấm thoát trôi qua, thời gian này khác hẳn không như hồi còn làm điệu quá sợ quý Ôn, quý Thầy. Tôi là một học tăng từ nha trang vào sài gòn đi học, tạm trú tại tu viện Quảng Hưong Già Lam, thường gặp Ôn, Ôn đi ra đi vào khi có lễ lược hoặc công việc phật sự và không khi nào học tăng chúng tôi lại không nhận được sự sách tấn của Ôn. Một vầng trăng của tất cả học tăng chúng tôi đều cùng hướng đến và soi sáng.
Cuối năm 1997, chúng tôi anh chị em học tăng khóa III Cao cấp Phật học ra trường, về nha trang tổ chức ra mắt, đảnh lễ quý Ôn, Quý Thầy trong Ban Trị sự và Thầy tổ. Lễ ra mắt hôm đó Ôn không tham dự, nhưng Ôn nhắn Anh em chúng tôi đến tư thất của Ôn để trò chuyện. Và dĩ nhiên, đọan đường kế tiếp sau khi học xong chương trình cao cấp phật học của chúng tôi được Ôn đề ra. Chúng tôi mãn nguyện vô cùng và đây là giây phút, là những lời dạy quý báu nhất chúng tôi cần có hơn tất cả, là phần thưởng dành cho chúng tôi hơn cả những phần thưởng chúng tôi có được lượm lặt trong thời gian học tập. Tăng Ni sinh chúng tôi ai có mặt lúc ấy đều mãn nguyện sung sướng và tự biết chọn cho mình một hướng đi thích hợp để tiếp tục con đư ờng học đạo và hành đạo.
Vầng trăng sáng tỏ tuyệt đẹp đó tuy trên cao nhưng rất gần gũi, luôn chiếu sáng đường đi cho mọi người trong đêm trường tối tăm. Sau buổi gặp gỡ các Tăng Ni sinh mỗi vị trình Ôn cuốn luận văn tốt nghiệp của mình, chỉ có mình tôi không có. Lý do vì tôi nghĩ rất đơn giản, đâu có gì xứng đáng để tôi dâng lên Ôn nhỉ? Do đó, tôi không chuẩn bị sẳn sàng việc này. Ôn hỏi tôi: Luận văn của Ông đâu?Tôi đáp: Dạ bạch Ôn con chưa có in, chỉ có làm 03 quyển con nộp cho Nhà trường, ban Trị sự và Bổn sư. Ôn bảo đi photocopy và gửi lên cho Ôn một cuốn đọc coi thử ra sao. Tôi vâng dạ ra về. Lúc ấy đang là mùa xuân, một mùa xuân trải dài sự ấm áp phía trước, tâm trí vừa nhẹ nhàng vì ít nhiều tôi vừa vượt quá một giai đọan dài học tập và hơn nữa, do quá nhiều công việc tại chùa vì chuẩn bị tết, đã làm cho tôi quên mất chuyện đem copy luận văn lên dâng Ôn. Sau đó, tôi liên tục nhận được lời nhắn của Ôn. Ôn nhắn khi có ai xuống chùa, nhắn qua điện thoại của sư phụ chúng tôi, cuối cùng thì tôi đã trình Ôn luận văn tốt nghiệp nhưng hơi muộn màng. Đầu năm, tôi lên đảnh lễ Ôn, Ôn đem chuyện những cuốn luận văn ra nói, Ôn không phê bình nội dung những gì tôi viết trong đó, nhưng có hỏi tôi về câu kết mà tôi đã viết kết thúc trong luận văn của mình: Sống chết là như vậy đó, đừng nên hỏi tại sao và tạo sao phải sanh tử như vậy. Ôn vừa cười vừa hỏi tại sao Ông viết ý này? Tôi im lặng không bình và nói rằng: dạ thưa Ôn con nói rồi đó, Ôn cười khà khà. Tôi lại tiếp tục được chiếu rọi ánh sáng trong vắt của vầng trăng tròn đầy tỏa sáng.
Một lần nữa vào giữa năm 2003, buổi sáng hôm đó chúng tôi thình lình nhận tin Ôn mệt lan khắp cả thành phố Nha trang. Đầu giờ chiều hôm ấy tôi và thầy Thông Huệ sắp xếp để lên hầu thăm Ôn. Lúc này, chư tăng ngồi quây quần bên Ôn, chúng tôi bước vào ngồi xuống một bên im lặng theo dõi sức khẻo của Ôn, nhìn tôi, Ôn hỏi: chừng nào ông đi Phan rang? Tôi tưởng chừng Ôn nhằm lẫn tôi với các chú đệ tử thầy Thông Huệ nên khi ấy, tôi trả lời hơi vô phép: mới bệnh nhẹ mà Ôn đã quên rồi hay sao? Hình như Ôn đã đoán được ý của tôi, Ôn lại bảo: Tôi hỏi chừng nào ông đi dạy trong Phan rang. Đi dạy! Tôi giật mình, điều mà tôi đã có ý định, nhưng chưa thưa Ôn. Tôi trả lời trong hối hận: bạch Ôn trong tuần này. Thế là Ôn đã theo dỏi từng bước chân của tôi và của tất cả thế hệ Tăng Ni trẻ Khánh hoà. Như vầng trăng luôn chiếu sáng khắp cả hang cùng ngõ hẽm, trên cành lá non vừa chớm nãy mầm trong đêm, chiếu tận lên cả ngọn cây cao khi hoàng hôn buông xuống. Dù gió có thoảng qua mặt hồ tỉnh lặng của một đêm thu buồn man mác, nhưng ánh trăng vẫn sáng và luôn làm đẹp cuộc đời.
Suy nghĩ về cuộc đời và con người giống như vầng trăng lúc tròn lúc khuyết, giống như những chiếc lá lúc vàng lúc xanh, lá nào rồi cũng rụng, rụng trước rụng sau nào ai có biết. Như những dòng sông lúc sâu lúc cạn, lúc đục lúc trong, toan tính chi vì mạng người chỉ trong hơi thở, hơi ra không vào thì đã ngã nghiêng trần thế, nhẹ vào nặng ra thì đã tím cả cuộc đời. Vầng trăng của ai đó đã ngã, nhưng ánh trăng sáng tỏa thì không của riêng ai, và không bao giờ nghiêng ngã, không ta không sở, nghìn năm vẫn hiện hữu và luôn thắp sáng như lời thơ cổ mà tôi đã học năm nao:
Khai trì bất đãi nguyệt
Trì thành tất tự lai.
Nghĩa là:
Đào ao chẳng đợi trăng sao
Khi ao có nước trăng sao hiện về.
Vầng trăng hình tướng của tôi đã ngã, tôi không biết ngoài tôi ra còn bao nhiêu vầng trăng ai ngã; nhưng trong niềm hy vọng mênh mang, tôi thầm hiểu rằng ánh sáng của vầng trăng vẫn đang tiếp tục trong xanh tỏa chiếu trên đồi cao sừng sững.
------------------------------
PHẬT SỰ VIÊN THÀNH VÀ Ý NGHĨA CỦA SỰ QUÊN MÌNH
Phật sự viên thành là lời tán thán, cầu nguyện chúng ta thường nghe trong lễ hội, các buổi tụng kinh sau phần hồi hướng, ước nguyện thành tựu của những người con Phật luôn mong muốn trong sự thừa hành Phật đạo. Ý nghĩa cao cả của người Phật tử ở phần tự thân (tự giác) là giải trừ tam độc ở mỗi con người, diệt trừ mọi phiền não, nhằm hướng đến nhất tâm thanh tịnh. Cho nên, việc kiến tạo chùa tháp, giảng dạy giáo pháp, tổ chức giáo hội....cho đến trang nghiêm Phật quốc cũng phải xuất phát từ bản tâm thanh tịnh, vô cầu tự lợi của mỗi Phật tử chúng ta.
Do vậy, chúng ta muốn việc hành đạo cho được viên mãn, có nghĩa là trong mỗi người đã khẳng định được vai trò của từng người là một sứ giả Như lai. Sứ giả Như Lai tự thể là những người nhận lãnh trọng trách lớn lao, mang hoài bảo của ba đời chư Phật vào đời, làm lợi lạc cho tất cả chúng sanh, không riêng một ai và không ở quốc độ nào mệt mỏi, phân biệt, nhàm chán và khiếp sợ, không bị thế lực nào cản trở việc khai bày cho chúng sanh thấy được bản tâm của chư Phật.
Sứ giả Như Lai hiện hữu là Tăng bảo, một hàng ngũ kế thừa sự nghiệp của chư Phật. Trong Tăng bảo đó, có sự hiện diện đầy đủ của Phật bảo và Pháp bảo, Thế gian trú trì Tam bảo.
Ý chí và tâm nguyện của chúng ta có thực hiện nổi trọng trách ấy hay không? Đây là câu hỏi chúng ta cần quan tâm và đưa lên hàng đầu trong mọi công việc, phải là niềm thôi thúc lớn lao của mỗi người con Phật. Chúng ta thấy rằng, kiếp hiện tại này Thái tử Tất Đạt Đa thành Phật là một quá trình chuyển tâm lâu dài của vô số kiếp. Sinh thành trong thế giới ta bà uế độ là một trở ngại lớn, pháp nhược ma cường, đời người ngắn ngủi và nhiều sự mệt mỏi, không phải một sớm, một chiều mà ước nguyện này chúng ta dễ thành tựu.
Nhưng, thiết nghĩ chúng ta có thể thực hiện chúng trong một mức độ nào đó, tùy thuận vào sự nhận thức, ý chí và trong lời nguyện này, tựa như Cổ đức đã nói: “Chế tâm nhứt xứ, vô sự bất biện” phỏng nghĩa là chuyên tâm và ý chí vào một chỗ thì không có việc gì lại không hoàn thành.
Ý nghĩa “quên mình” là một yếu tố tiên quyết trong lúc thừa hành Phật sự. Hành Bồ-tát đạo là bằng tâm vô chấp, vô nhiễm, xả ly, nếu chúng ta mang vào đời bằng tâm này thì chúng ta sẽ không còn thấy phải làm thế này và không làm thế khác, thấy chúng sanh phải độ và chưa độ, còn nguyện phải làm và chưa làm có nghĩa chúng ta sẽ không vướng kẹt trong thế giới của chấp trước, và tâm mong cầu được thành tựu. Chúng ta hiểu rằng sự biểu lộ hành động, vẫn chỉ là phương tiện pháp biểu lộ tâm nguyện, chứ không phải là mục đích tối thượng. Hành động của Phật là hành không mong cầu, kết quả của Phật chính là không kết quả, tâm của Phật chính là tâm vô nguyện, tất cả đều được lưu xuất từ chơn tâm thanh tịnh, tự nhiên nhi nhiên và tự chúng thành tựu.
Do đó, chúng ta trước khi dấn thân vào đời, thiết nghĩ ở một trạng thái nhất định nào đó của tâm nguyện chúng ta phải mặc được chiếc áo quên mình thì lúc ấy, chúng ta không thấy mỏi mệt để phục vụ, và không thấy vướng kẹt bởi con người này hoặc con người khác, thế lực này và sức ép kia. Làm việc Phật với mục đích để cầu xưng danh và nhãn hiệu thì chắc chắn không có kết quả chính đáng, nếu có chẳng phải là Phật quả mà chính là hành động của ma (vong thất Bồ đề tâm tu chư thiện pháp thị danh ma nghiệp).Tuy nhiên, trước khi khoác chiếc áo “quên mình” vào thân chúng ta cần nhiều yếu tố khác hổ trợ để đầy đủ nghị lực.
Nội lực của mỗi sứ giả Như Lai. Thông thường, con người trang sức năng lực và bề ngoài của mình bằng một số kiến thức, kinh nghiệm thu thập được trong quá trình học tập, danh tiếng và chức vị xã hội. Ngược lại, sứ giả Như lai trang sức thân và tâm của mình bằng tâm giải thoát và thân tự tại. Sứ giả Như Lai không cầu không lợi, tiết chế tham dục, luôn làm giàu định huệ và lòng Từ-Bi. Ngoài những thứ ấy ra tất cả đều là thứ yếu. Bởi vì, sở trường của Phật giáo chính là những giá trị tâm linh siêu việt cần để trang bị nội lực của mình. Thêm nữa, phẩm chất giải thoát chính là đạo hạnh của mỗi chúng ta, nếu không có phẩm chất này dẫn đường, thì con đường Phật sự lại vướng kẹt và rất nhiều tăm tối.
Do đó, nội lực và phẩm chất là hai yếu tố để chúng ta khoát chiếc áo “quên mình” dấn thân vào cuộc đời. Không có nội lực và phẩm chất lại mang thân vào đời để hành Phật đạo như yêu cầu mong muốn, thì thực như chúng ta khoác chiếc áo lửa để rồi thiêu đốt lấy mình. Thế nên, người hành đạo cần phải nên trau dồi những yếu tố này được hoàn thiện.
Tóm lại, sứ giả Như Lai mang tâm và hạnh nguyện của ba đời chư Phật dấn thân vào cuộc đời để hành Phật đạo không khoác chiếc áo quên mình vào thân thì thật sự thiếu sót cho chí nguyện cao cả, và việc làm ấy không khéo chỉ tô diểm cho hành động của ma, chính chúng không mang lại lợi ích lớn lao và cuối cùng chỉ để đối đãi với pháp hữu vi (mộng lại càng thêm mộng) không lột tả hết ý nghĩa siêu việt của đạo Phật. Lý tưởng ấy chính là sự giải thoát khổ đau và giác ngộ thực tính của vạn pháp.
Với suy nghĩ trên, nghĩ rằng chúng ta muốn thật sự viên thành Phật đạo, cần phải soi xét lại hành động của mình khi thể nhập và hòa quyện trong cuộc sống. Sự phát triển của thời đại, con người gọi là thiên niên kỷ của thông tin bùng nổ, dưới con mắt của giáo pháp gọi là thiên niên kỷ của vọng tưởng điên đão nếu chúng ta không lưu tâm và kiểm soát chúng.
-------------------------
PHẦN 3.
MỘT THÓANG TRỜI XA
PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI THÁI LAN
Như chúng ta đã biết, Phật giáo Thái Lan là một trung tâm Phật giáo Nguyên thủy có tầm cỡ trong khu vực cũng như trên thế giới, về chất cũng như lượng. Ở Thái Lan, Phật giáo là quốc giáo, hơn 95% dân chúng Thái theo truyền thống Phật giáo Nguyên thủy. Bên cạnh đó, không kể một số lượng lớn người nước ngoài đến Thái Lan để tu tập, nghiên cứu và học hỏi về truyền thống Phật giáo này. Trải rộng trên toàn lãnh thổ Thái Lan, đi đến đâu cũng có sự hiện diện của chùa chiền, tự viện, Tăng sĩ và những trung tâm Thiền do Giáo hội Phật giáo Thái Lan thành lập và tổ chức một cách có hệ thống. Sinh hoạt của cộng đồng Phật giáo thường được tổ chức sinh hoạt rất lớn, nếu không nói đó là một trong nhiều chương trình của quốc gia. Việc làm đầu tiên trong ngày của Phật tử Thái Lan trước khi đi đến công sở, buôn bán, hay trẻ em đến trường là lễ Phật và sớt bát (cúng dường) chư Tăng.
Phật giáo Thái Lan có một nét đặc thù, không như các quốc gia khác như Campuchia, Lào, Sri Lanka, Myanmar… họ không dễ dàng chấp nhận những gì ngoài truyền thống của họ. Về tư tưởng, họ không nói gì khác ngoài cuộc đời là khổ và chấm dứt khổ đau bằng con đường thiền định được ghi đầy đủ trong tạng Pàli.
Hiện nay, sinh hoạt của Giáo hội Phật giáo Thái Lan vẫn chưa có mặt của chư Tăng thuộc truyền thống Phật giáo Bắc truyền, ngoài sự công nhận của Hoàng gia và Chính phủ Thái Lan. Chỉ gần hai năm trước đây, vào tháng 8 năm 2000, Giáo hội Phật giáo Thái Lan đã mời đại diện của Phật giáo Bắc truyền đến bàn thảo kế hoạch thành lập Hội đồng Giáo hội (tổ chức thống nhất). Có thể đây là dấu hiệu cải cách nhằm phù hợp với xu thế phát triển chung của thế giới.
Từ những điều đã nói trên, chúng tôi không nghĩ rằng Phật tử Việt Nam sẽ ngạc nhiên khi được biết Phật giáo Việt Nam đã có mặt trên xứ sở này cách đây hơn 200 năm về trước((1) Theo Buddhism in the Kingdom of Thailand của Sathicn Bodhinatha1). Điều này đã tạo nên một sự ngạc nhiên đối với người phương Tây khi nghiên cứu Phật giáo Thái Lan. Tuy nhiên, phần đông dân Thái gọi nôm na Phật giáo Bắc truyền ở đất nước này trong khái niệm “chùa Tàu” mà tiếng Thái gọi là “wat Chin”.
Phật giáo Bắc truyền đến xứ sở chùa tháp này cách đây hơn 200 năm, và hiện nay có hai dấu ấn chính là Phật giáo Việt Nam và Phật giáo Trung Quốc, ở đây chúng tôi chỉ đề cập đến Phật giáo Việt Nam.
Vị danh tăng được xem là người giới thiệu Phật giáo Việt Nam trên đất Thái sớm nhất là Đại sư Thích Báo An (?) thuộc môn phái Lâm Tế. Bảo tháp của ngài được tôn trí tại Quảng Phước tự (tất cả chùa Việt Nam ở Thái Lan hiện nay đều đổi tên Thái, nhưng ở đây chúng tôi không đề cập). Ngôi chùa đầu tiên được kiều bào Việt Nam xây dựng trên đất Thái là chùa Cam Lồ, nhưng nay ngôi chùa này đã trở thành chùa Tàu. Ngôi chùa thứ hai có tên là chùa Hội Khánh, chùa này được di chuyển và tái trùng tu vào năm 1956 do kiều bào Việt Nam và Chính phủ Thái đóng góp. Duy nhất tại chùa này chúng ta có thể đọc được tiếng Việt Nam “Chùa Hội Khánh” ngay cổng tam quan của chùa. Chùa tọa lạc tại khu vực Chinatown trên đường Supa.
Tiếp theo 2 ngôi chùa trên trải qua một thời gian dài, chư Tăng người Việt Nam không còn và đệ tử tiếp nối của họ toàn là người Thái, hiện nay theo truyền thống Phật giáo Việt Nam có 15 ngôi chùa nằm dọc trên đất nước Thái. Tại trung tâm Bangkok có 7 ngôi, 8 ngôi còn lại thuộc các tỉnh phía Nam và Đông bắc Thái Lan((2) Kỷ yếu khánh thành chùa Khánh Vân năm 2000, theo bản chữ Hán và Thái.2). Nếu không được giới thiệu, chúng ta sẽ không thể biết được đâu là chùa Việt Nam, bởi vì tất cả tên chùa này được viết bằng chữ Thái và Hán, có thể dễ lẫn lộn giữa chùa Việt - Thái và chùa Tàu.
Mặc dù chư tôn đức Phật giáo Việt nam đã hết sức nỗ lực trong con đường hoằng hóa, tuy nhiên sinh hoạt của chư Tăng Phật giáo Bắc truyền và số lượng tu sĩ cũng như ngôi Tam bảo vẫn hết sức khiêm tốn và lu mờ trên đất nước này, một đất nước có gần 30.000 ngôi chùa và thường xuyên có hơn 300.000 tu sĩ Phật giáo, chưa kể các trung tâm Phật giáo quốc tế đặt tại đây((3) Theo, Thai Buddhism in the Buddhist world của Ven.Payutto.3).
Tác giả bài viết này đã hết sức xúc động khi lần đầu tiên đến thăm một ngôi chùa Việt Nam, tham dự một thời kinh tối, được nghe giọng tụng kinh theo âm Việt, bài Tâm Kinh Bát Nhã và Hồi hướng của chư Tăng người Thái.
Một khía cạnh khác chúng tôi muốn nói, mặc dù là tu sĩ theo truyền thống Bắc tông nói chung hay các thiền phái Việt Nam nói riêng nhưng mọi sinh hoạt ở đây nhất nhất phải áp dụng như các Tăng sĩ Thái, và theo luật pháp của Thái. Chỉ có một điểm khác biệt đáng kể của Phật giáo Bắc truyền hoặc Phật giáo Việt Nam tại Thái Lan so với Phật giáo Thái Lan là hình thức nghi lễ.
Hòa thượng Thích Kỉnh Chiếu, hiện là Chủ tịch của Phật giáo Bắc truyền tại Thái Lan, viện chủ chùa Hội Phước và là giám đốc trường tiểu, trung học được thành lập bởi Phật giáo Việt Nam nằm rải rác trên đất Thái; và là người luôn luôn mang hoài bão phục hưng - phát triển thiền phái. Hiện nay, chư Tăng đang lưu trú tại 15 ngôi chùa của Việt Nam không đông lắm, nhưng có thể nói cũng đủ để đảm trách các Phật sự, nếu họ được đào tạo như Tăng sĩ tại quê nhà.
Theo tâm nguyện của Hòa thượng, chúng tôi được biết hiện nay Phật giáo Việt Nam tại Thái Lan đã gởi 20 vị Tăng theo học các ngành tại Ấn Độ, Trung Quốc, Singapore. Lực lượng Tăng sĩ này là sự chuẩn bị cho nhân sự của trường đại học Phật giáo Việt Nam tại Thái Lan. Cũng theo tâm nguyện của ngài, Hòa thượng cho biết chương trình chủ đạo của trường đại học này sẽ theo chương trình đào tạo của Phật giáo Việt Nam. Do đó, ngài luôn mong mõi được Giáo hội Phật giáo Việt Nam hỗ trợ. Hòa thượng cho biết, ngài mong muốn những Tăng sĩ trẻ Việt Nam tại Thái Lan được đào tạo tại trong nước, có nề nếp sinh hoạt, tư duy và hành động theo truyền thống và bản sắc của Phật giáo Việt Nam.
Với tầm mức phát triển hiện tại, Phật giáo Việt Nam là một trong những trung tâm Phật giáo được khu vực và thế giới chú ý. Thông qua Thư ký của ngài Tăng thống Phật giáo Lào, chúng tôi cũng được biết, Phật giáo Lào mong muốn và chờ đợi sự tiếp nhận đào tạo Tăng sĩ Lào của Phật giáo Việt Nam. Cũng thế, nhiều vị Tăng sĩ Phật giáo ở các nước khác mà chúng tôi đã có dịp tiếp xúc, họ cũng mong muốn được học và nghiên cứu Phật giáo tại nước ta. Như thế, từ điểm này chúng tôi nghĩ rằng Phật giáo Việt Nam nếu có chương trình và được tạo các điều kiện thuận lợi thì trong tương lai không xa, một “trung tâm Phật giáo lớn” như chúng ta đã có trong lịch sử sẽ được phục hồi nhanh chóng.
Với bài viết này, chúng tôi hy vọng Phật tử Việt Nam ghi nhận nơi đây sự hiện hữu của Phật giáo Việt Nam trên đất Thái và chia sẻ những bước đường khó nhọc mà các vị tiền bối của chúng ta đã đi trên con đường hoằng pháp; cũng như hiểu rõ những thao thức, hoài bão của các vị tôn túc hiện tại, mong muốn được duy trì và phát triển Phật giáo Việt Nam một cách hiệu quả và thiết thực trên đất nước này.
----------------------------
NHỮNG NGÔI CHÙA VIỆT NAM TẠI THÁI LAN
Chỉ có một vài trang tài liệu trong thư tịch Phật giáo Thái Lan (PGTL)khi nói về Phật giáo Việt Nam (PGVN), tuy nhiên với sự động viên của chư Tôn đức và nhu cầu tìm hiểu về PGVN tại Thái Lan của đông đảo Phật tử, chúng tôi mạo muội giới thiệu vài nét chính về những ngôi chùa thuộc Phật giáo Việt Nam hay còn gọi là Việt Tông (Annamnikaya) tại xứ sở này.
I/ Nguồn gốc:
Từ tư liệu lịch sử cho chúng ta biết, Phật giáo Việt Nam đến Thái Lan vào khoảng thế kỷ thứ 18, bằng nhiều lý do và nhiều con đường khác nhau, tựu trung gồm những lý do chính:
- Lý do chính trị: Trong lịch sử, do không những xáo trộn, biến động của thời cuộc, nhiều người Việt nam đã di cư sang một số nước trong khu vực. Thái Lan là một trong những miền đất hứa lúc bấy giờ cho người Việt di cư.
- Lý do tôn giáo: Sự phát triển và truyền bá tôn giáo, PGVN cũng như các nước Phật giáo khác, không đóng khung trong khuôn khổ phạm vi lãnh thổ của mình, mà còn vượt qua các nước láng giềng khi có cơ hội.
- Lý do hòa nhập : Lý do này là tiền đề của tất cả sự bang giao về phương diện văn hóa của khu vực và những nước láng giềng. Sự thu nhận các yếu tố văn hóa ngoại lai để làm phong phú màu sắc truyền thống văn hóa của sứ xở mình, đó chính là xu thế phát triễn của văn minh con người và xã hội. Do đó, dân chúng Thái Lan đã tiếp cận được một luồng gió mới là Phật giáo Đại thừa Việt Nam, và cũng chính là mấu chốt, yếu tố thật sự quan trọng để PGVN tồn tại nơi đất nước này.
Trong trào lưu truyền bá và hội nhập văn hóa đa phương, với những lý do trên PGVN vào đất Thái đầu tiên bằng con đường chính trị. Nội chiến xãy ra tại Annam đã đưa đẫy Hoàng đế Gia Long đến với đất nước Xiêm La. Vua Gia Long sang đất Xiêm vào năm B.E.2325-1781.AD ((1) Tài liệu giảng dạy Phật giáo Thái lan, của trường Đại học Mahachulalongkorn Thái lan,bởi phó giáo sư tiến sỉ Phramaha Somjin Sammapanno1), để lánh nạn. Trong đoàn người cùng tháp tùng với vua Gia Long, bao gồm cả tướng, sĩ, thế dân chạy sang Xiêm, hầu hết là những người con Phật. Đã là người con Phật, dù đi đâu, trong hoàn cảnh nào Phật chất trong tâm của họ vẫn tồn tại. Nhất là Phật tử Việt Nam, bất cứ nơi nào họ cư trú, nếu như có thể xây dựng nơi đó một Phật đường thì họ sẽ làm ngay, thế là những ngôi chùa Phật giáo Việt nam được xây dựng. Từ đó, PGVN ghi dấu sự có mặt của mình trong trang sử Phật giáo Thái Lan. Cho đến hôm nay, dư âm của vua Gia Long vẫn còn lưu dấu trong hòai niệm của người dân Thái, khi họ có cơ hội nhắc đến Việt Nam xưa (Annam) với tên gọi vua Gia Long đã được phiên âm: Ong Ziang-Sue (Ông Thiên Tử).
Tuy nhiên, dựa theo sử liệu, thì vua Gia Long không phải là người có công trong việc truyền bá và xây dựng ngôi chùa đầu tiên của PGVN, mà đó chính là một vị quan của triều đình, được đọc và phiên âm là Ong Ziang-Zun ( B.E 2316-1772 A.D) (?). Nói về Ong Ziang-Zun, có một giáo sư Việt kiều Thái cho rằng đó là quan tướng Tôn Thất Thuyết (???). Song, vì Ông này không phải là một thiên tử, do đó ít được nhắc đến trong cộng đồng dân Thái. Tuy nhiên, nói về người có công xây dựng ngôi chùa Việt Nam đầu tiên thì sử sách phải lưu truyền. Hai ngôi chùa đầu tiên được xây dựng trong thời trị vì của vua Taksin ,vua của Dhonburi (1768-1782) B.E 2319((2) Giả thiết ngôi chùa xây dựng từ năm này, tuy nhiên tác giả vẫn còn đang kiêm chứng.2). Và hai ngôi chùa kế tiếp được xây dựng ngay thời điểm vua Gia Long cư trú ở đất Xiêm vào triều đại mới của Hoàng gia Thái lan, triều đại Rama (B.E. 2325)((3) Đây là năm xây dựng những ngôi chùa kế tiếp3). Cũng từ thời điểm này PGVN nhận lãnh một cái tên cao quý được đức Vua Thái Lan ban sắc đó là Annamnikaya. Annamnikaya có từ thời Vua Yodfah Chulaloke-Rama I (1782-1809), mãi lưu truyền cho đến vua Rama IX và sẽ mãi cho đến ngày sau.
II/ Sự Phát triễn của Annamnikaya:
Sau khi ngôi chùa mang tên Thái là Wat Mongalasamagom((4) Ngôi chùa này là một trong 2 ngôi chùa đầu tiên được xây dựng, tuy nhiên đã được di dời và tái xây dựng lại từ năm 1956. Một trong ngôi chùa khác theo ngài Tăng trưởng Annamnikaya cho biết vì thời gian đó không có người trông coi, do vậy bây giờ thuộc dưới sự quản lý của Chinenikaya (Phật giáo Trung Hoa).4), tên Việt chùa Hội Khánh đầu tiên được thành lập, PGVN không ngừng tại đây. Chư Tăng Việt tông cũng đã có cơ hội truyền thừa và an vị tại xứ sở này. Trải qua thời gian dài, nhiều giai đoạn, từng địa phương khác nhau những ngôi chùa thuộc Annamnikaya được xây dựng, đáp ứng nguyện vọng của cộng đồng Việt kiều. Bên cạnh đó, người dân Thái đã có nhiều ưu ái và tín ngưỡng dành riêng cho PGVN. Trong đó, không ít người Thái xuất gia trở thành những tu sĩ làm rường cột để truyền bá PGVN cho đến hôm nay.
Tính đến thời điểm hiện nay, Annamnikaya đã có 16 ngôi chùa nằm rải rác trên toàn đất nước Thái. Ngôi chùa mới đang được xây dựng gần đây nhất là Chùa Phổ Chiếu do Hòa thượng Thích Kính Chiếu, Tăng trưởng của Annamnikaya đứng trông coi xây dựng. Cũng được biết đây là ngôi chùa đánh dấu sự nghiệp hoằng pháp của ngài và được sự ủng hộ tinh thần nhiệt tình của ngài phó vua Sải tại Wat Sisaket (Chùa Tháp Vàng). Ngoài ra, 15 ngôi chùa khác hiện nay cũng đã tiến đến hoàn thiện về nhiều mặt và luôn hành trì theo truyền thống PGVN, tuy có thay đổi một ít nét sinh hoạt để phù hợp với truyền thống Phật giáo Nguyên thủy Thái Lan và văn hóa của người Thái. Địa chỉ những ngôi chùa Việt Tông như sau:
Tại thủ đô Bangkok có 7 ngôi:
1-Wat Kusolsamakorn (Chùa Phổ Phước)((5) Nguồn lấy từ văn phòng của Ananamnikaya, tên Việt tác giả đọc từ chữ Hán tại cổng tam quan mỗi chùa. Những chùa chưa có tên Việt vì tác giả chưa có cơ hội để đến. Chùa Phổ Chiếu đang xâ dựng chưa có địa chỉ chính thức.5)
97, soi watkuson, Ratchawong, rd Sampanthawong, Bangkok 10100.
2-Wat Ananamnikayaram (Chùa Quảng Phước) 27, Praccharat road 1, Bangsue- Bangkok 10800.
3-Wat Lokanuckor (Chùa Từ Tế). 126, Ratchawong-Chawarat Sampanthawong-Bangkok 10100.
4-Wat Samananamborihan (Chùa Cảnh Phước). 416 Lugluang- Siyak mahanak Dusit- Bangkok 10300.
5-Wat Upairadchabamrung (Chùa Khánh Vân). 864 Charoenkrung- Taladnod Sampanthawong- Bangkok 10100.
6-Wat Chaiyapummikaram (Chùa Tỉ Ngạn). 30 Yaovapanid- Chakrawad Sampanthawong- Bangkok 10100.
7-Wat Mongkornsamakom (Chùa Hội Khánh). 48 Plangnam-Sampanthawong, Sub Sampanthawong-Bangkok 10100.
Những ngôi chùa ở miền Nam Thái lan:
8-Wat Thamkhounoy (Chùa Khánh Thọ). 18/1 Mou 5 Muangchum Thamuang- Kanchanabury 71000.
9-Wat Thawornwararam (Chùa Long Sơn). 03 Chaokunen- Bannue Mueng- Kanchanabury 71000.
10- Wat Khednabunyram (?). 28 Khuang- wadmai Mueng- Chantabury 22000.
11-Wat Mahayankanchanamadrabamrung (?). 9 Mahapad- Sateng Mueng- Yala 95000.
12-Wat Annamnikaya (Chùa Tam Bảo Công). 208 Mou 1 Donmanao Songpinong- Suphanbury-72100.
13-Wat Upaipatikaram (Chùa Khánh Thọ). 475/ Supakid- Banmai Mueng Chachoengsao- 72100.
14-Wat Thawornwararam Hadyai (?). 45 Sangchan - hadyainai Hadyai- Songkla 90110.
Miền Đông Bắc Thái Lan:
15-Wat Sunthonpradid (Chùa Khánh An). 4/3 Adunded- Magkhang Mueng- Udon Thani 41000.
Tất cả những vị trú trì những ngôi chùa này đều được vua Thái sắc phong, hơn một nữa số vị trú trì tuổi đã lớn. Tổng số Tỳ-kheo và Sa-di trong Annamnikaya không quá 500 vị so với con số 300 ngàn chư Tăng toàn đất nước Thái quả là khiêm tốn (!). Tại Thái Lan Việt tông không có chú tiểu chỉ có Sa-di dưới 20 tuổi và Tỳ-kheo khi trên 20 tuổi đời, bất kể xuất gia ở thời điểm nào.
III/ Sinh hoạt và hoằng pháp hiện tại:
Chùa Phổ Phước do Hoà thượng tăng trưởng Annamnikaya trú trì hay còn gọi là Học viện Tăng Già Phổ Phước và cũng là văn phòng của Việt tông. Chùa Phổ Phước hiện nay là cơ sở để chúng ta có thể đánh giá và biết được sự phát triển của Việt tông hiện tại cũng như tương lai. Bởi vì, nơi đây thanh quy của thiền môn vẫn đang được gìn giữ nghiêm mật, chư Tăng được khuyến tấn tu học, Hòa thượng trú trì vẫn còn luôn khao khát tái hiện toàn bộ sinh hoạt của PGVN, những gì mà ngài được học từ các vị tiền túc.
Về hành trì-tu học:
Hiện chùa này có trên 100 Tăng sĩ đang tu học, con số này vẫn luôn được duy trì mỗi năm, các Sa-di được đào tạo theo chương trình giáo dục phổ cập của Bộ giáo dục Thái. Sau khi tốt nghiệp ở học viện, các Sa-di được đủ tuổi có thể nhận lãnh cụ túc giới và tiếp tục theo học một trong nhiều trường Phật học cũng như là Đại học của Thái Lan hoặc trở về gia đình trở thành một thiện tín. Riêng số chúng Tỳ-kheo ở Annamnikaya thì quá ít, thậm chí không đủ để phụ trách công việc của Học viện cũng như là giảng dạy và ứng phó đạo tràng.
Mặc dầu tu học theo hình thức PGVN, tuy nhiên chư Tăng vẫn áp dụng nhiều hình thức như một tu sĩ Nam truyền Thái Lan. Nghĩa là phải đi khất thực vào mỗi buổi sáng sớm, và gìn giữ đầy đủ quy chế Tăng sự của Giáo hội Phật giáo Thái, bên cạnh Luật Quốc gia dành cho tu sĩ Phật giáo. Từ đây, chúng ta có câu trả lời, tại sao giới Bồ-tát hoàn toàn không được trao truyền trong Tăng sĩ Việt tông, vì nếu nhận mà không thực hiện được, thì không nhận là biện pháp tốt nhất.
Vì phần lớn thời gian dành cho việc học tập, chư Sa-di ở đây mỗi ngày chỉ thọ trì hai thời kinh Tịnh độ và công phu khuya. Trong những thời tụng kinh chúng ta luôn được nghe âm thanh, ca điệu Việt Nam, hoàn toàn bằng tiếng Việt, pha lẫn chút thanh giọng Trung Hoa. Ngoài thời gian học tập suốt ngày tại lớp, chư Sa-di vẫn thường xuyên được Hòa thượng hướng dẫn cách đọc kinh tiếng Việt cho đúng và luôn được chỉnh đốn chíh xác, đây là công việc không mệt mỏi của Hòa thượng Tăng trưởng, một tấm gương gìn giữ Phật chất Việt Nam đáng khâm phục. Sắc phục lúc hành lễ của Tỳ-kheo tại chùa này giống như Việt Nam, tuy nhiên khi ra bên ngoài cả Tỳ-kheo và Sa-di không có áo nhật bình dài (có lẽ lúc bấy giờ chiếc áo nhật bình chưa ra đời, do đó chưa được truyền vào), thay vào đó chiếc y quấn ngang qua vai, đây là một hình thức khác với sắc phục thường nhật khi ra ngoài của PGVN quê nhà. Tuy nhiên hình thức này là bất di dịch bởi đã được Đức Vua chỉ phong.
Về Ứng phó đạo tràng:
Có thể nói rằng ngoài công việc học hành, việc đáp ứng cầu an, cầu siêu bên ngoài là công việc chính của chư Tăng PGVN hiện nay, ngoài ra không còn một công việc nào khác như giảng pháp, hướng dẫn Phật tử tu tập, làm từ thiện, tham gia công tác xã hội v.v... Bởi lẽ nhân sự là yếu tố quyết định trong trường hợp này. Đại Trai đàn chẩn tế vẫn thường xuyên được tổ chức và cũng đã thể hiện đặc thù chất giọng Nghi lễ của Phật giáo miền Nam Việt nam.
Về Giáo dục:
Giáo dục đào tạo những Tăng sĩ có học là ước vọng và hoài bảo chung của chư vị Tôn đức. Và từ đây, dưới sự nỗ lực của ngài tăng trưỡng, chúng ta có quyền hy vọng rằng Việt tông sẽ được duy trì, nếu có một phương pháp giáo dục Phật học chính thống. Hiện nay, Annamnikaya đã đầy đủ trường lớp cho mọi cấp học từ tiểu, trung và đại học nằm ba miền của nước Thái. Đặc biệt, một trường Đại học chuyên về giảng dạy giáo lý Phật Giáo Bắc truyền mang tên Đại trí Văn Thù, gọi tắt là Đại trí của Việt tông đã chính thức chiêu sinh trong 4-2002. Đây là một sự phấn đấu không ngừng, một sự nỗ lực âm thầm ngày đêm của chư Tăng Việt tông và quan trọng hơn cả là sự san sẽ thiếu sót của hệ thống giáo dục Phật học Thái Lan; nơi có những ngôi trường Phật học thành lập hơn cả trăm năm, có một chương trình đào tạo nhiều khoa, ngành mang tầm vóc quốc tế, vậy mà không có Khoa Phật Giáo Bắc Truyền!
Thiết nghĩ cần phải nói thêm về trường đại học này, theo như lời cuả ngài Tăng trưởng, trường đại học này sẽ giảng dạy cả hai truyền thống Phật giáo, đặc biệt là tư tưởng Phật giáo Việt Nam làm nồng cốt. Bên cạnh được sự cộng tác của Phật giáo Đài Loan, Phật giáo Trung Hoa, Phật Giáo Malaisya và cả Phật giáo Việt nam. Nghị quyết này cũng đã được phê chuẫn trong nghị định thành lập nhà trường, và đã in tải trên tờ bướm của trường đại học, không biết là chư Tăng Việt tông đã thỉnh ý giúp đỡ từ Giáo hội Phật giáo Việt Nam quê nhà hay chưa? Riêng các Giáo hội khác đã cộng tác. Tác giả bài viết này cũng thiết tha kêu gọi toàn thể người con Phật Việt Nam trên toàn thế giới đồng hướng tâm ủng hộ, để Phật sự này được thăng hoa tốt đẹp.
Chương trình của trường đại học này không khác mấy trong hệ thống giáo dục Phật học các nước. Ngôn ngữ giảng dạy tùy thuộc vào nghành học của sinh viên bao gồm: Trung văn, Anh Văn, Việt ngữ và Thái ngữ .
IV/ Kết luận:
Như ở trên đã nói, đây mới chỉ là một bản sơ thảo, do vậy chúng tôi chỉ căn cứ những ý kiến, dữ liệu hiện là tài liệu giảng dạy môn Phật giáo Thái Lan của Trường đại học Phật giáo Mahachulalongkorn dẫn chứng để viết bài này. Chúng tôi không so sánh, không đánh giá, tuy nhiên trong lòng vẫn canh cánh tìm tòi, và khám phá thêm độ chính xác của sử liệu. Bởi vì, với một mảng đề tài có bề dày lịch sử hơn 200 năm, thế mà trong thư tịch Phật giáo Thái Lan chỉ vỏn vẻn có vài trang giấy và được trích đi giảng lại, không có gì mới lạ và thường bị sai lệch bởi các học giả dẫn chứng khác nhau. Hơn thế nữa, đây là công việc mà các học giả Thái thờ ơ nếu không muốn nói là họ không muốn nghĩ đến và quan tâm. Từ suy nghĩ cho là vấn đề thứ yếu, ngoài truyền thống, do đó cho đến hiện nay chưa có một văn bản nào về Annamnikaya được các học giả Thái công bố ở mức độ tối thiểu nhất, và chưa có một văn kiện nào được dịch ra từ tiếng Thái một cách nghiêm túc. Do vậy, từ lý do này chúng tôi vẫn luôn hoài nghi và đang theo đuổi tìm kiếm để có được một tài liệu giới thiệu tổng thể bức tranh lịch sữ con đường của PGVN đến Thái lan.
Với công việc vượt ngoài khả năng như hiện nay, chúng tôi mong mỏi được lắng nghe, chỉ dạy từ các bậc Tôn túc am hiểu về Phật giáo Việt Nam tại Thái lan, các vị học giả, những nhà sử học đóng góp và bổ túc để vấn đề được sáng tỏ, làm giàu thêm trang Phật sử nước nhà. Đặc biệt, Annamnikaya có được một văn kiện lịch sử chứng minh họ đã có nguồn gốc rõ rệt, chứ không phải chỉ là những minh chứng truyền khẩu như hiện nay.
Trong những sơ thảo kế tiếp chúng tôi hy vọng sẽ sớm giới thiệu, những vị cao Tăng nào đầu tiên đã đến đất nước này, và ai là người đã làm rường cột chấn hưng lòng tin của dân bản xứ vào PGVN, cũng như trạng thái chùa Việt hiện nay tại sứ xở của những chiếc y vàng.
------------------------------
Tài liệu tham khảo
1- Phra, Rajavaramuni, Thai Buddhism in the Buddhist world. Mahachulalongkorn Buddhist University, 4th printing- April B.E./2530/1987 C.E, ISBN 974-8356-75-2. Printed in Thailand by Amarin Printing Group.
2- Jumsai, M.L. Manich, Popular History of Thailand. Published by Chalermnit, 6th Edition, September 2000, Bangkok.
3- Buddhism in Thailand tài liệu giảng dạy tại Trường đại học Phật giáo Mahachulalongkorn - Bangkok-Thái Lan, do Phó giáo sư tiến sĩ Phramaha Somjin Sammanpano.
--------------------------------
PHẦN 4:
ĐỀ CƯƠNG MỘT SỐ BÀI GIẢNG
CHO GIA ĐÌNH PHẬT TỬ ÁO LAM - KHÁNH HÒA
CUỘC ĐỜI ĐỨC PHẬT
Đức Phật thường được ca tụng như một bậc vĩ nhân. Nhưng như thế vẫn chưa đủ, bởi vì vĩ nhân thường được hiểu như những bậc kỳ tài xuất chúng trong một lĩnh vực nào đó, hoặc có thể là nhiều lĩnh vực, mang lại lợi lạc cho con người trong một mức độ nào đó. Có thể là một vĩ nhân ở phương Đông nhưng chưa hẵn là kỳ tài ở phương Tây. Nhưng Đức Phật Thích-Ca hoàn toàn khác, trước hết Ngài đã làm lợi lạc không những cho cả loài người ở cả Đông lẫn Tây, cả Âu sang Á, mà còn làm lợi ích cho cả những loài không phải là loài người: Thiên nhơn chi đạo sư (Thầy của trời người), không những đời này mà còn nhiều nhiều kiếp về sau. Như thế, là những người con Phật, những người Phật tử chúng ta không những chỉ biết được về cuộc đời của Ngài và hơn thế nữa chúng ta cần phải biết rõ, để xưng tụng và để đi theo con đường cao quí mà đức Phật đã từng đi
Thông thường khi tìm hiểu về một con người, một bậc vĩ nhân nào đó, chúng ta cần hiểu rõ lai lịch và hoàn cảnh xã hội con người ấy đang ở. Thiết nghĩ, chúng ta cũng phải tìm hiểu hoàn cảnh xã hội trong thời điểm Đức Phật ra đời. Xã hội đó là Ấn Độ, chiếc nôi của nền văn minh phương Đông.
I/ XÃ HỘI ẤN ĐỘ TRƯỚC VÀ TRONG THỜI KỲ ĐỨC PHẬT RA ĐỜI:
Nói đến Ấn Độ cổ đại, chúng ta quan tâm đến nền văn minh sớm nhất của nhân loại, nói đến những trường phái triết học, đề cập đến lĩnh vực Tôn giáo, tất cả chúng như một vườn hoa, có đầy đủ hương sắc tranh nhau nở rộ. Bên cạnh, là những đô thị hình thành thật sớm, những chính thể nhà nước sớm nhất, những pháp tắc để trị dân, khuôn phép sống cho con người, những lời thơ, tiếng hát đã trở thành bất hủ, tất cả những tiền đề này góp phần xây dựng nền văn minh cho nhân loại phát triển về sau.
A-Tư tưởng triết học và tôn giáo trước khi Đức Thế Tôn xuất thế:
Vào khoảng 3.000 năm trước kỷ nguyên, giống người du mục Aryan cư trú tại miền Trung ương Á-Tế-Á, họ đã vượt qua dãi núi Hindukusk di chuyển xuống vùng Đông nam Á-Tế-Á, và một phần khác của họ thẳng tiến đến Tây nam thuộc Ba Tư (Iran), một phần khác thì tràn xuống Đông nam, xâm nhập vào phía Tây bắc nước Ấn Độ, đánh đuổi người bản xứ, chiếm lĩnh vùng Panjab (Ngũ Hà địa phương) thuộc lưu vực sông Indus, và cuối cùng sự lan truyền rộng lớn của giống người này được gọi là dân tộc Aryan Ấn độ.
Dân tộc này chiếm cứ và cư trụ vùng Panjab, họ trở nên phồn thịnh mỗi ngày, không những về mặt kinh tế, lẫn cả về mặt tư tưởng họ cũng phát triển. Bộ sách đầu tiên do dân tộc này chế tác chính là Kinh điển Rig-Veda ( Lê-câu phệ-đà ) 40 quyển, là nguồn tư tưởng văn hóa đầu tiên trong thời kỳ thứ nhất của Bà-la-môn giáo, từ khỏang năm 1.500-1.000 trước kỷ nguyên.
Nội dung kinh điển Rig-Veda ban đầu đơn thuần chỉ là những bài thi ca có tính cách thần thoại, trong đó bao hàm nhiều tư tưởng nói về vũ trụ và nhân sinh quan. Và về sau chính tư tưởng này đã làm nền tảng để khai triển cho những trào lưu tư tưởng hậu lai.
Hệ tư tưởng ở thời kỳ thứ hai của Bà-la-môn giáo là thời đại Brahmana (Phạm thư), trong khoảng 1.000-800 năm trước kỷ nguyên. Trong thời kỳ này, tộc Aryan tiến dần về phía Đông, chiếm cứ khu đất đồng bằng phì nhiêu trên bờ sông Hằng (Gange), lấy nghề canh nông làm mục tiêu, đặt ra chức tước vua quan, bắt những người khác giống làm nô lệ, chia xã hội thành bốn giai cấp khác nhau: Giai cấp Bà-la-môn ( Brahmanah) chủ trương việc nghi lễ tôn giáo; giai cấp Sát-đế-lợi (Ksatriya) là giai cấp vua quan nắm quyền cai trị; Giai cấp Tỳ-xá (Vaisya) là giai cấp bình dân, nông, công, thương; Giai cấp Thủ-Đà-la (Sudra) là giai cấp tiện dân, đời đời làm nô lệ.
Nội dung của sách Brahmana hoàn toàn như một pho sách có tính cách Thần học. Trong đó bản ngã làm trung tâm. Brahman và Atman tên tuy khác nhưng có cùng một bản thể. Brahman thuộc về phương diện vũ trụ và Atman thuộc về phương diện tâm lý chi phối toàn bộ tư tưởng của con người lúc bấy giờ. Atman thuộc về phương diện tâm lý thì linh hồn được xem như là bất diệt, nghĩa là Atman khi lìa thể xác thì linh hồn quy thuộc về Brahman.
Nội dung tư tưởng thứ ba của Bà-la-môn giáo là triết học Upanishad (Áo nghĩa thư), được hình thành khoảng thời gian 800-600 trước công nguyên. Nội dung tư tưởng triết học này chủ trương thuyết Phạm ngã đồng nhất, và Lý tưởng giải thoát. Tư tưởng này trải qua 3 giai đoạn: Giai đoạn một là đi tìm con đường giải thoát, nhưng giải thoát phải đi tìm tự nơi chính bản thân mình, không phải tìm ở bên ngoài, do đó nhân của giải thoát là tự giác, nhân của luân hồi là bất giác. Giai đoạn thứ hai là, muốn thoát luân hồi phải an trụ vào bản tính, và bồi dưỡng trí tuệ. Giai đoạn thứ ba là noi theo phương pháp tu trì, để mong đạt đến trực quán trí, tức là qua phép tu Yoga.
B-Tư tưởng Triết học và Tôn giáo ở thời kỳ Đức Thế Tôn xuất thế:
Tư tưởng trong ba thời kỳ: Rig Veda- Brahman và Upanishad đều là những tư tưởng căn bản của Bà-la-môn giáo. Bắt đầu từ năm 600 B.C trở về sau, tư tưởng Ấn Độ không ngừng tiếp tục phát triển những tư tưởng mới lần lược ra đời. Như Kỳ na giáo, Phật giáo, Lục sư ngoại đạo và Sáu phái triết học. Ở đây chúng ta không học về triết học và tôn giáo Ấn Độ, cũng không phải là lịch sử Phật giáo Ấn Độ, do đó chúng ta chỉ tìm hiểu sơ lược danh xưng, nội dung của chúng sẽ nằm vào thời học khác:
Kỳ na giáo (Jaina):. Giáo phái này chủ trương về Vật hoạt luận. Tư tưởng triết học căn bản của giáo phái này là thực thể (Dravaya). Thực thể chia làm hai trạng thái là sinh mệnh yếu tố và sinh mệnh phi yếu tố. Sinh mệnh yếu tố thì gồm đủ cả hai phần lý trí và tình cảm, phi sinh mệnh yếu tố được chia ra làm năm yếu tố: Không (Akasa), Pháp (Dharma), Phi pháp (Adharma), Vật chất (Pudgala) và Thời gian (Kala). Vì mong giải thoát luân hồi nên giáo phái này chủ trương tu khổ hạnh làm mục đích tối cao.
Lục sư ngoại đạo phái (Sat- tirthakarah): Trong sáu phái ngoại đạo mỗi phái đều chủ trương khác nhau. Tên của những phái như sau:
1-Phái Purana Kassapa (Phú nan đà ca diếp).
2-Phái Makkhali Gosala (Mạt già lê câu xá lợi)
3-Phái Ajitakesa Kambali (A di da Thuý - Xá khâm bà la).
4-Phái Pakudha Katyayana (Bà Phù Đà Ca Chiên diên).
5-Phái Sanjaya Belatthiputta (Tán Nha Gia Tỳ la Lê Tử).
6-Phái Nigantha nataputta (Ni kiền đà nhã đề tử).
Sáu phái triết học: Sáu phái triết học có ảnh hưởng hệ tư tưởng Bà-la-môn hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp, tên của chúng như:
1-Phái Nyaya (Chính lý phái). Thủy tổ là Akasapada (Túc mục).
2-Phái Vaisesika (Thắng luận pháp).
3-Phái Samkhya (Số luận pháp).
4-Phái Yoga (Du già phái).
5-Phái Mimamsa (Nhĩ man tát phái).
6-Phái Vedanta (Phệ đà đa phái).
C-Trạng thái chính trị và xã hội trong thời Đức Thế Tôn:
Trước khi Đức Thế tôn xuất thế, bộ máy chính quyền được tổ chức theo chính thể cộng hòa, đến thời kỳ Đức Thế Tôn chế độ đó tan rã và được thay thế bằng chính thể quân chủ chuyên chế. Cũng trong thời kỳ này, dân tộc Ấn Độ rất tôn trọng nghi thức tế tự, tôn trọng thần linh. Mặc khác, theo sự tiến triển của xã hội, phát sinh ra bốn chức nghiệp: Sĩ, Nông, Công và Thương, dần dà nghề nghiệp này đã hình thành sự phân chia những giai cấp rõ rệt và lớn mạnh, đứng đầu là giới Tăng lữ Bà-la-môn. Những giai cấp này được tồn tại bởi hình thức thế tập, cha truyền con nối, nên giai cấp nô lệ, cứ đời đời làm nô lệ tạo thành một tổ chức xã hội bất công (Con quan rồi lại làm quan, con sải ở chùa lại quét lá đa ). Để duy trì sức mạnh bền vững của mình, nương vào tư tưởng của bốn giai cấp ấy. Bà-la-môn giáo cũng hình thành bốn thời kỳ tu hành của mình:
1-Phạm tri kỳ: Thời kỳ sinh hoạt của tuổi thiếu niên, ở tuổi này phải học tập kinh điển Vệ Đà. Tới khi học nghiệp thành tựu thì trở về nhà.
2-Gia cư kỳ: Thời kỳ sinh hoạt gia đình tuổi tráng niên, lập gia đình, xây dựng người thừa kế.
3- Lâm cư kỳ: Kỳ sinh hoạt xuất gia cho những người làm xong nghĩa vụ gia đình, vào rừng để tu tập thiền định.
4-Du hành kỳ: Thời kỳ du hành của thời đại lão niên, thời kỳ này mong cầu cho sự tu hành được thành tựu.
Do vậy, chúng ta thấy rằng đây chẳng phải là một xã hội lý tưởng, mặc dầu sức mạnh của giai cấp cầm quyền có thống lĩnh đến đâu chăng nữa. Xã hội này sẽ không có an lành và hạnh phúc cho quần chúng nhân dân. Sự khinh bỉ và phân liệt, sự nghèo đói và lầm than trong tư tưởng tất cả đều là những nỗi khổ mà bất cứ con người nào ở mọi thời đại đều muốn thoát khỏi. Từ đó, ước vọng có một nhà lãnh đạo tinh thần tài ba xuất hiện, để cứu giúp cho con người ra khỏi đen tối là điều tất yếu.
II/ CUỘC ĐỜI THÁI TỬ TẤT ĐẠT ĐA:
Sự ra đời của Đức Phật đã đáp ứng được nguyện vọng khao khát của dân tộc Ấn Độ lúc bấy giờ. Sự xuất hiện của Ngài là vầng trăng sáng soi rọi khắp hang cùng ngỏ hẽm bóng đêm, như ánh mặt trời xuất hiện xua đuổi bóng đêm giai cấp xiềng xích nhân thế.
A/ Thời niên thiếu: Thái tử Tất Đạt Đa đản sinh ngày rằm tháng tư âm lịch (tính theo lịch Trung hoa) biểu hiện cho một sức sống vươn mầm. Ngài đã đem lại hạnh phúc đầu tiên cho dòng họ Thích Ca. Vua Tịnh Phạn và Hoàng hậu Ma Gia có niềm hạnh phúc nho nhỏ là đã có người con nối dõi theo ước muốn của hai người và làm cho khung trời của xứ Ca Tỳ La Vệ rung động. Lễ đặt tên cho Thái tử, với hai dòng nước vừa tủi phận vừa chan hòa hạnh phúc của tiên nhơn A Tư Đà, sự thông minh tột bực, nhanh nhẹn trong tiếp thu mọi kiến thức xã hội được trao truyền từ những bậc Thầy tài ba. Buổi lễ tịch điền, thái tử ngồi yên lặng tĩnh tọa bên những luống mạ non xanh vờn, những kỳ tỉ thí so tài vượt lên tất cả mọi thí sinh tham dự. Những điều kỳ diệu ấy, đã làm cho cả thần dân kính phục, hoàng gia sanh lo lắng bởi những lời tiên đoán đầy linh nghiệm mỗi ngày được hiển lộ nơi Thái tử.
Mặc dầu là một Thái tử thông minh xuất chúng, có mộ đời sống sung mãn vật chất, quyền uy, bên cạnh tình yêu thương phụ-mẫu-tử rộng lớn, âu yếm của người vợ sắc đẹp nghiêng trời Gia Du Đà La, với sự chăm sóc chu toàn ngày đêm của hàng trăm cung tần mỹ nữ, bên tất cả thú vui giữa cuộc đời, với tiếng khóc của con thơ La Hầu La. Thế mà, Thái tử Tất Đạt Đa vẫn canh cánh trong lòng một nỗi buồn man mác muôn thuở tựa như chẳng ai hiểu nỗi tâm trạng của Ngài. Nỗi buồn của một xã hội đầy đói khác, bất công ư ? Nổi buồn vì sự mong muốn của Ngài không được tọai nguyện ư ? Chẳng phải!
Nỗi buồn ấy, chính là nỗi đau khổ triền miên của kiếp người, dưới con mắt của bậc đại trí, một lớp vỏ bọc vật chất, thú vui tạm bợ, không phải là niềm hạnh phúc chân chánh của kiếp người, những thứ ấy đã và đang được xây dựng bởi ước muốn và dục vọng, bảo bọc bởi bản ngã, tô điểm trên nền tảng tà kiến, của trăm thứ tư tưởng trong xã hội hiện tại. Một xã hội mà trong đó giá trị con người bị đánh mất (sự phân chia giai cấp tàn khốc) để rồi con người sẽ nhận lãnh cái khỗ lớn lao từ khi Sanh ra cho đến khi Già, Bệnh rồi Chết. Thái tử đã thấy rằng, trong mỗi con người không có cao thấp, sang hèn trong khi máu cùng đỏ và nước mắt cùng mặn, con người không phải từ nơi giai cấp sanh ra, và được ân sủng bởi một đấng tối cao nào cả. Hạnh phúc hay đau khổ là do từ mỗi nơi tự thân con người, mỗi con người cần phải có và hiểu được đâu là hạnh phúc chân chánh và đâu là sự tạm bợ của nó, và tất cả những suy nghĩ này, đã khiến Thái tử vất bỏ tất cả những thứ mong manh đang có được, như bỏ chiếc dép ra khỏi chân một cách nhẹ nhàng. Đi tìm con đường thoát khỏi nổi khổ sinh tử cho chúng sanh.
B/ Thái Tử Xuất gia: Vào ngày mùng tám tháng hai âm lịch, khi bốn bề đều vùi trong giấc ngủ. Cái nhìn cuối cùng đến với vợ đẹp con ngoan chính là sự chia tay mãi mãi với niềm hạnh phúc giả tạo, hoan lạc của trần thế. Thái tử Tất Đạt Đa cùng người hầu cận của mình lặng lẽ vượt thành, bỏ lại sau lưng tất cả ngai vàng điện ngọc, để trở thành kẻ không nhà lang thang mãi trong rừng sâu, xuất gia thành Sa môn khổ hạnh.
Đây cũng chính là những tháng ngày đau thương nhất của hoàng tộc, và đó chính là những ngày tháng Sa môn Tất Đạt Đa trải qua nhiều phen thử thách, với sự hoang vu của núi rừng, với những lời chỉ dạy của các bậc thầy được xem là nỗi tiếng đắc đạo lúc bấy giờ. Lại một lần nữa, Tất Đạt Đa kẻ không nhà bỏ lại sau lưng tất cả những kinh nghiệm đã học được từ những vị ấy với lòng tri ân vô hạn, để một mình tìm cho mình một lối thoát. Những gì Ngài đã học được từ sách vở, Thầy giáo, những kinh nghiệm tu chứng nhiều năm trong rừng thẳm của các Đạo sư, Tất Đạt Đa đều đem thử nghiệm, với sáu năm khổ hạnh, có những lúc bụng chỉ có một hột mè, một hột gạo, hoặc chỉ là một hớp nước, đã có lúc Ngài kiệt sức, ngã qụy, thân thể chỉ con da bọc xương. Để rồi nhà khổ hạnh Tất Đạt Đa bừng tỉnh rằng đấy chỉ là cực đoan, giết hại thân thể, hình phạt tinh thần, không có lợi ích.
Bát sữa của cô lâm nữ Tu Xà Đề dâng cúng cho Ngài chính là quyết định nhận lãnh từ sự nhận thức cao cả. Không thể tu hành trong một thân thể yếu đuối, ép xác, và sẽ không có tinh thần minh mẫn trong tấm thân bạc nhược. Cũng thế, với một đời sống sung mãn cũng không thể là con đường tốt cho ý chí vươn lên. Con đường trung đạo trong tư duy của Cồ Đàm mở ra. Và lời đại nguyện dũng mãnh: “Dầu xương tan thịt nát, nếu ta chưa tìm ra con đường để cứu giúp chúng sanh ra khỏi bể khổ sanh tử thì Ta không rời chổ này” bên bờ sông Ni Liên Thuyền. Suốt 49 ngày nhập định tham thiền, một đêm trăng khuyết, ánh trăng vừa ló dạng Thái Tử Tất Đạt Đa đã trở thành Đấng Thế Tôn Vô Thượng.
C/ Thái Tử Thành Đạo: Trong bóng đêm tịch mịch, ngày mùng 08 tháng 02 vào canh 2 đức Thế tôn đã chứng quả Túc mạng Minh, hiểu rõ được nhiều kiếp trước của mình. Sang canh 3 Ngài chứng được Thiên nhãn minh nhận thức rõ nguồn gốc của khổ đau hiện tại. Sự bừng ngộ của Ngài như vầng trăng bất diệt đi ngang qua dòng sinh diệt. Trí tuệ của sự giác ngộ là kết tinh của vô lượng kiếp trầm mình trong thế giới sinh diệt nhưng chưa hề biến diệt. Sự giác ngộ của Ngài đánh dấu cho một thế giới khác, những thế giới đã đổ nát bây giờ được vực dậy và tăng thêm sức sống. Sự thành đạo của Ngài không những đã làm chấn động tâm thức của loài người mà hàng chư Thiên ở nhiều cảnh giới khác đều chấn động. Thái tử Tất Đạt Đa đã trở thành bậc Ứng Cúng - Chánh Biến Tri - Minh Hạnh Túc - Thiện Thệ - Thế Gian Giải - Vô Thượng Sĩ - Điều Ngự Trượng Phu - Thiên Nhơn Sư - Phật - Thế Tôn.
III/ THỜI KỲ ĐỨC PHẬT TRUYỀN ĐẠO:
Đức Phật đã nhiều lần dự định nhập Niết bàn, qua nhiều lần thưa thỉnh của Đế Thích, Ngài quyết định rống pháp âm vi diệu, tựa như tiếng rống của loài chúa sơn lâm làm khiếp sợ cả vùng núi rừng thâm thẳm, cũng thế lời pháp trong sáng thiêu đốt cả núi rừng vô minh.
A/ Đức Phật truyền đạo:
Dưới cội Bồ đề bên dòng sông Ni Liên Thuyền, Đức Phật không vội vã rao giảng chánh pháp cao minh - khó hiểu, Ngài dùng tuệ nhãn xem xét căn cơ của chúng sanh và quyết định đứng dậy khi biết được rằng: “ Căn cơ của chúng sanh tựa như những bông sen tươi đẹp, có những bông đã vượt lên mặt nước, có những bông hoa còn nằm ngang lưng chừng mặt nước và những bông khác còn nằm sâu dưới lòng nước”. Từ đó, vô lượng phương tiện Ngài đã mở bày hóa độ chúng sanh khắp cõi Ấn Độ. Đầu tiên là 5 người bạn đồng tu với bài Pháp Tứ Đế và Vô Ngã Tướng. Tam Bảo ba ngôi quý báu để lòai người nương tựa bắt đầu từ đây. Những kẻ ngoại đạo cứng đầu, những vị quân vương đều được Ngài khai thị và quy đầu làm đệ tử xuất gia, tại gia, cho đến những kẻ bần cùng hốt phân, nghèo nàn, dâm nữ, tướng cướp và ác độc: Tất cả đều bình đẳng trong lời dạy của Ngài và hơn thế nữa có mặt trong hàng ngũ của Tăng đoàn, một trong ba ngôi báu, không một mảy may tự ti.
B/ Đức Phật nhập Niết bàn: Lời dạy cuối cùng khi công đã mãn, những gì cần làm Đức Phật đã làm, việc gì đã xong thì cũng đã hoàn tất: “Các con hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi, hãy là hòn đảo của chính mình làm nơi nương tựa….Ta chỉ là một bậc Thầy dẫn đường… Giáo pháp còn thì Ta còn……”. Tất cả những lời dạy ấy là những lời dạy cuối cùng của một bậc Đạo Sư không phải là một Thượng Đế tối cao và cũng không phải là một bậc đầy quyền năng bởi những lời dạy hàm chứa tính tự giác và giác tha của mỗi con người. Tại xứ Câu Thi La bên rừng cây Sa la, Đức Phật đã an nhiên nhập diệt, để lại một khung trời tím ngắt, làm tím đẫm lòng người con Phật nhiều nơi trên xứ Ấn và những vùng lân cận, nơi có dấu chân Ngài đi qua.
IV/ SỰ THỊ HIỆN CỦA ĐỨC PHẬT:
Sự thị hiện của Đức Phật, đầu tiên chúng ta muốn nói đến ấy chính là lòng từ bi của Ngài, vì thương tưởng đến chúng sanh trầm luân trong sinh tử, khổ não trong cuộc sống lầm than. Trong kinh Pháp Hoa nói rằng Đức Phật ra đời vì một nhân duyên lớn khai thị chúng sanh ngộ nhập Phật Tri Kiến.
Trên phương diện lịch sử Đức Phật là một con người có thật, một con người lịch sử không phải là một vị Thần, hay một vị Thượng đế giáng trần như nhiều tôn giáo khác đã tô vẽ cho vị giáo chủ của họ. Đức Phật thị hiện ý nghĩa khác hẳn với sự giáng thế của nhiều vị giáo chủ khác không phải từ quyền uy hoặc từ sáng tạo hoặc trong trạng thái tuyệt đối của một đấng tối cao mà là một vị Thầy giản dị mang ánh sáng giác ngộ đến với loài người.
Sự thị hiện của đức Phật đánh đổ toàn bộ khối tư duy hữu ngã, hữu thần như Ngài đã tuyên bố khi đản sinh tại vườn Lâm Tỳ Ni: Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn. Ngã chính là chỉ cho chơn ngã, chân tâm của mỗi con người chứ không phải là bản ngã hay tiểu ngã của riêng Ngài và cho rằng Ngài là trên tất cả. Chính ngay những giây phút đầu tiên khi đản sinh, Thái tử Tất Đạt Đa đã làm một cuộc cách mạng vĩ đại, cuộc cách mạng đó đã mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử tôn giáo mà trước đây đã đè nặng lên ý thức của con người.
V/ TÍNH CHẤT CÁCH MẠNG TRONG CUỘC ĐỜI ĐỨC PHẬT:
Cách mạng đúng nghĩa là sự đổi mới từ trạng thái này sang trạng thái khác, của một hiện tượng chứ không phải là sự phá vỡ hoặc đập đổ những cái cũ để thay thế vào đó những điều mới, cho dù điều đó đúng hay sai có thực tế, áp dụng vào đời sống hay không hoặc có mang lại ích lợi thiết thực.
Xã hội Ấn Độ lúc bấy giờ trở nên tàn khốc trong tâm thức của con người bởi sự đè nặng lên chúng là những giai cấp thống trị, sự kỳ thị giữa con người và con người. Giá trị làm người bị chà đạp, con người không có tự do và có quyền được lựa chọn cho mình một cách sống phù hợp.
Bên cạnh đó, tư tưởng gìn giữ độc quyền thần linh bao phủ một hào quang vừa xa vời với con người thực tế, và quyền lực giai cấp để bảo vệ địa vị của một tầng lớp thống trị, tất cả mọi thứ đó trở nên gay gắt và tạo ra nhiều khổ não trong đời sống con người lúc bấy giờ. Hệ quả tất yếu đã sản sinh nhiều tư tưởng và hình thức tế lễ của tôn giáo cũng chính là sự thể hiện khao khát, ước vọng của con người hướng đến một điều gì đó tốt đẹp hơn hoàn cảnh hiện tại.
Đức Phật đã đáp ứng đầy đủ nguyện vọng ấy, Ngài đã đánh đổ toàn bộ sự bất công đã mang lại sự khổ đau tàn khốc cho con người khi ngài vạch ra một con đường vượt thóat. Vì quyền uy nắm giữ độc quyền tôn giáo và xã hội là một minh chứng, Thánh điển Vệ Đà là tư tưởng tiêu biểu tại thời điểm ấy. Sự cách mạng của Đức Phật thể hiện trên câu nói thật ngắn gọn mà đầy trí tuệ và bình đẳng: Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành. Đây là sự xác nhận quyền làm người của con người, mỗi người đều có khả năng, sức mạnh tinh thần như nhau và được quyền nhận hay không nhận những gì thuộc về con người. Tư tưởng cách mạng này đánh đổ toàn bộ cả hai lĩnh vực xã hội và tôn giáo, không những chỉ trong thời điểm ấy mà cho đến hôm nay vẫn luôn luôn giá trị trong xã hội nhân loại .
VI/ Ý NGHĨA CAO CẢ VỀ CUỘC ĐỜI ĐỨC PHẬT
Từ bi là ý niệm khởi đầu từ khi còn là Thái tử Tất Đạt Đa cho đến khi thành ngôi Chánh giác và cho đến trọn vẹn 49 năm hoằng hóa độ sinh, lòng từ bi của Ngài như là suối nguồn, là động cơ mạnh nhất, khiến Đức Phật không bao giờ thấy mệt mỏi. Tình thương vô biên ấy vượt qua biên giới phàm tình, tục đế. Tình thương không dựa trên hữu ngã, không hạn hẹp và ích kỷ. Tình thương vô biên này đã nói lên ý nghĩa cao cả nhất cuộc đời của Ngài, nói lên giá trị những lời dạy của Ngài xuyên suốt thời gian và không gian. Trong lịch sử tôn giáo chúng ta khó tìm thấy nơi vị giáo chủ nào sánh kịp.
Trí huệ là con đường để đạt đến của Thái tử Tất Đạt Đa, vì chỉ có trí tuệ thật sự thì con người mới có khả năng vượt lên trên nỗi thống khổ đang vây kín con người. Có trí tuệ, con người mới tìm được nguồn hạnh phúc thật sự mà con người mong muốn, khao khát và vượt qua mọi sợ hãi từ tư duy hữu ngã. Sự hiểu biết trọn vẹn này đã mở ra nhiều phương trời ý thức mới trong lịch sử triết học và tôn giáo của nhân loại và ngoài phạm vi của loài người. Có trí tuệ chân chánh này, con người mới không còn luẩn quẩn trong rừng rậm phân biệt từ ý thức, và tự khẳng định mình hơn giữa cuộc đời này: Thấy tất cả các pháp như chiêm bao, ảo thuật, bóng nước, ảnh tượng, sương mai và điện chớp.
Nếu không có Từ-Bi và Trí-Huệ thì ý nghĩa cuộc đời Đức Phật vẫn tầm thường như bao mãnh đời khác, và con đường giác ngộ và giải thoát cũng không thể thực hiện được. Có Từ-Bi và Trí-Huệ cuộc đời Đức Phật quá cao cả và cao cả hơn nữa là lịch sử loài người vẫn chưa tìm ra con người thứ hai.
VII/ Ý NGHĨA CÁC SỰ KIỆN ĐẶC BIỆT:
Mỗi sự kiện đi qua cuộc đời Đức Phật đều mang một tầm vóc quan trọng. Nếu chúng ta càng hiểu rõ các sự kiện đó thì dễ dàng để hiểu được những lời dạy của Ngài và sự ghi nhớ về Ngài của chúng ta được trọn vẹn. Do đó, tìm hiểu những ý nghĩa cao cả thật rất cần thiết, trong đó bao gồm những sự kiện lịch sử đáng nhớ.
1- Đản sinh: So sánh nhiều hiện tượng trong thế giới bình thường này cho chúng ta thấy, có nhiều hiện tượng lạ cho thấy Đức Phật không phải là con người thường như bao con người khác được bao bọc với vóc dáng, thân hình một con người thật bằng da bằng thịt. Theo đạo Phật, thì con người sinh ra bắt nguồn từ nghiệp thức đã chuyển - dẫn nhiều đời của người ấy. Nhưng Đức Phật lại khác một con người bằng thân tạo thành từ tứ đại, nhưng tâm thức là một sự kết tính của phước đức và trí huệ chứ không phải từ nghiệp thức, không phải từ dục vọng hay từ ái dục thôi thúc. Điều này được chứng minh qua nhiều trong kinh điển cũng như trong Jatakas (Truyện tiền thân của đức Phật). Ngài là một vị Bồ-tát đản sinh, vị đã viên mãn trong trí tuệ và phước đức.
2- Xuất gia: Đây không phải ý tưởng hay chí nguyện được xuất phát sau khi Ngài đản sinh, mà chính là sự xuất hiện bởi hạnh nguyện độ sanh từ nhiều đời mà Ngài đã làm. Đặc tướng ấy đã thể hiện trên dung nhan của Ngài mà kẻ phàm phu như tiên nhơn A Tư Đà cũng có thể thấy được. Sự xuất gia của Ngài trong một hoàn cảnh cũng không mấy đặc biệt. Vì xuất gia là con đường phải quá xa lạ trong văn hóa và truyền thống từ trước của văn minh Bà-la-môn giáo. Tuy nhiên, đặc biệt Ngài đã tìm ra ánh sáng mà trước và sau đến hôm nay vẫn chưa có vị thứ hai kế tiếp, nghĩa là người đã hoàn thiện được mục đích và lý tưởng của mình.
3- Thành đạo: Con đường trung đạo là con đường giải thoát mà chỉ có Đức Phật mới tìm ra, chứng ngộ được nằm bàng bạc trong những lời dạy và những kiến thức đã có sẳn trong ý thức hệ lúc bấy giờ, chứ không ở đâu xa và cũng không có nhiều điều mới lạ. Có khác chăng là nó thoát khỏi suy tư hữu ngã và đi thẳng vào vô ngã của vạn pháp, một cánh cửa không vướng kẹt.
4- Hóa độ: Một tấm gương của một vị Thầy vĩ đại, chỉ có con người có giàu lòng Từ-Bi và chí nguyện mới có thể ròng rã trong 49 năm đi khắp lưu vực sông Hằng để hoằng hóa, cả cuộc đời cống hiến cho chúng sanh như chưa bao giờ ngừng nghĩ, mỏi mệt và khởi tâm niệm chán nản với nhiều chủng tính người khác nhau.
5- Niết bàn: Công đã mãn việc đã thành, những gì cần làm Ngài đã làm xong, không một mảy may khởi niệm. Như bàn tay không còn nắm bắt một vật gì, sự an tịnh của Ngài hiện thân chân thật, không đau khổ hạnh phúc khi đến và không khởi niệm đau khổ hạnh phúc khi đi: Như Lai nghĩa là không từ đâu mà đến và không có từ đâu để đi.
Nếu hiểu rõ được sâu sắc về cuộc đời của Đức Phật thì sự tôn kính và ca ngợi Ngài sẽ mang nhiều lợi lạc giá trị. Càng hiểu rõ để thực hành và ghi nhớ thì ý nghĩa của cuộc đời và con người của chúng ta đang sống cũng trở nến ý nghĩa và sẽ không bao giờ là kẻ hủy báng người mình tôn kính (Tin Ta mà không hiểu Ta là hủy báng Ta ).
Như thế chúng ta cũng biết được rằng đức Phật xuất hiện vì con người và lợi ích cho con người bằng xương bằng thịt, Ngài không phải là một Thượng đế giáng trần càng không phải là một thần linh đầy biến hóa mà là một vị Thầy. Vị Thầy đầy đủ Từ-Bi và Trí-Tuệ, đủ cả mọi công hạnh làm khuôn phép cho xã hội đi theo một trật tự trong đó an lạc và giải thoát được đề cao.
-----------------------------
Tài liệu tham khảo
Doãn Chính-Lương Minh Cừ, Lịch sử triết học Ấn Độ cổ đại. Nxb Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp, Hà nội.1991.
Thích Thanh Kiểm, Lịch sử Phật giáo Ấn độ. Thành hội Phật giáo Tp Hồ Chí Minh ấn hành. PL: 2533-1989.
Thích Thiện Hòa, Phật học phổ thông, quyển I. Thành hội Phật giáo Tp Hồ Chí Minh ấn hành.1989.
Cao Hữu Đính, Phật và Thánh chúng. Viện cao đẳng Phật học Trung phần xuất bản. Nha trang. 1973.
Gia Đình Phật tử Việt nam, Tài liệu tu học học Bậc kiên. Ban hướng dẫn Trung ương GĐPTVN.PL: 2545-2001.
Ludwig Theodore, Những con đường tâm linh phương Đông, 2 quyển. Nxb Văn hóa thông tin, Hà nội.2000.
Câu hỏi tìm tòi suy nghĩ
1-Tinh thần bình đẳng trong Phật giáo có địa vị gì trong lịch sử tôn giáo Ấn độ? Tác dụng của chúng thế nào?
2-Tinh thần vô Ngã của Đức Phật mang lại điều gì cho xã hội Ấn Độ quá khứ và hiện tại?
3-Tinh thần Từ-Bi, Trí-tuệ, Giải thoát được đề cao thế nào và áp dụng ra sao trong cuộc đời của Đức Phật?
4-Đức Phật có phải là một Thượng đế, hay một Thần linh?
5-Đạo Phật có phải là một tôn giáo?
6-Phân tích những đặc điểm cao quý trong sự nghiệp hoằng hóa của Đức Phật?
------------------------
HỌC PHẬT VÀ PHẬT HỌC
I\ Mở Đề:
Là Phật tử, mỗi người chúng ta luôn mang tâm nguyện tiến tu trên con đường giải thoát và giác ngộ, việc trước nhất thể hiện ý nghĩa đó là cần phải học Phật. Có học Phật cặn kẽ, rõ ràng và căn bản, chúng ta mới có cơ hội để tiếp nhận ánh sáng của đức Phật tỏa chiếu muôn nơi mà không e sợ đi lạc đường, lầm lối, dẫn vào tà đạo, và mới có thể mang lại nhiều lợi ích thiết thực trong cuộc sống cho chính mình và cho tha nhân.
Học Phật không phải chỉ biết được lời Phật dạy, biết qua kiến thức suông để đàm luận, lý luận, mà cần phải thực tập, áp dụng vào cuộc sống của mỗi người trong sự nghe thấy, tư duy và hành động. Có như thế thì lời Phật dạy không phải là những bài pháp khô cứng, lỗi thời mang tính cổ xưa, mà chính là những lời dạy sinh động ngay trong cuộc sống, những bài pháp sống động luôn chuyển tải một tiềm năng thức tỉnh cho từng đối tượng nghiên cứu, tu tập.
II/ Nội dung:
1/ Định nghĩa:
a/ Phật học: Là một hệ thống tư tưởng của đức Phật, là tổng hợp tất cả lời dạy của đức Phật xuyên suốt trong suốt 49 năm hoằng pháp độ sanh, sau này được các vị tổ sư phân loại thành nhiều vấn đề, chương tiết. Nói chung, tất cả lời dạy của đức Phật được gói gọn một cách khoa học trong tam tạng kinh điển ( Tipitakà). Đây là một hệ thống lý thuyết bao gồm toàn bộ vấn đề liên quan đến nhân sinh và vũ trụ, do đức Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết giảng, như là một bộ môn khoa học, được gọi là Phật học( Buddhist Studies). Đứng về mặt khoa học, Phật học được so sánh giống như các bộ môn khoa học khác như : Tâm lý học, Sử học, Luật học, Giáo dục học, Triết học, Xã hội học, Kinh tế học, Nhân chủng học..v.v. Do đó, để trở thành một nhà Phật học chúng ta cần phải học nhiều, biết nhiều về lời Phật dạy, tuỳ thuộc theo chương trình nghiên cứu, và phân loại đề ra. Tóm lại, Phật học là phương pháp học hỏi kiến thức của đức Phật (Tri).
b/ Học Phật: Là học về đức tánh, hạnh nguyện, nhân cách của đức Phật, học làm Phật; đây là ý nghĩa rốt ráo của đạo Phật, của những người Phật tử. Nghĩa là áp dụng lời Phật dạy vào ngay cuộc sống của mình, trong tư duy và hành động (Hành) để chuyển hóa toàn bộ từ một con người phàm phu thành một bậc giác ngộ.
2/ Phân loại:
a/: Phật học:
Là một hệ thống lời Phật dạy được thâu tóm biên soạn, chứa đựng trong tam tạng kinh điển: Kinh- Luật- Luận.
Kinh:
Được phân chia ra thành nhiều hệ thống, bộ phái.
Kinh Nguyên Thủy gồm có 5 bộ Nikaya dịch từ tiếng Pali cũng còn gọi là Kinh Điển Pali và bây giờ đã được dịch sang tiếng Việt nam.
Kinh A hàm gồm có 4 bộ A Hàm dịch từ tiếng Phạn về sau này dịch sang tiếng Trung hoa và đã dịch ra tiếng Việt nam.
Kinh Đại Thừa gồm có như kinh Pháp Hoa, Duy Ma, Bát nhã, Hoa nghiêm, Lăng Nghiêm, Lăng Già, Kinh Kim Cương, Di đà.v.v.
Luật:
Luật Thanh Văn( Tỳ kheo giới).
Luật Bồ tát (Đại thừa giới).
Luận: Luận của Nguyên thủy Phật giáo.
Luận của Hữu bộ.
Luận của Đại thừa.
Từ tam tạng kinh điển này, về sau chúng ta thấy lại được các nhà Phật học phân loại thành nhiều ngành thuộc về Phật học như: Tâm lý học phật giáo; Sử học phật giáo; Luật học phật giáo; Triết học phật giáo; Xã hội học phật giáo; Chính trị học phật giáo; Phụ nữ học phật giáo; Kinh tế học phật giáo; Nghệ thuật học phật giáo, Âm nhạc Phật giáo; Mỹ học phật giáo; Kiến trúc phật giáo.v.v.
b/ Học Phật: Là học bao gồm cả: Đức tánh, Hạnh nguyện, Nhân cách của đức Phật, và học làm Phật.
Đức tánh: Đại Hùng- Đại Lực- Đại Từ Bi. Đại hùng là người đã đủ sức mạnh, hùng lực ở ngôi vô thượng, là Thầy của ba cỏi sáu đường. Là người đã vượt thoát lưới ma, phá tan màn vô minh, thoát ra sanh tử luân hồi. Đại lực là người có đủ trí tuệ phá tan được nghiệp chướng, phiền não mê hoặc sâu dày của mình và của chúng sanh. Đại từ bi là người có khả năng cứu độ chúng sanh trong chín nẽo luân hồi. Và còn rất nhiều đức tánh chi tiết khác nữa chúng ta cần phải học.
Hạnh Nguyện: Tự giác, Giác tha và Giác hạnh viên mãn. Tự giác là người đã tự nguyện giác ngộ lấy chính mình. Giác tha là mang sự giác ngộ của mình giúp cho người khác giác ngộ. Giác hạnh viên mãn là mọi công hạnh đã trọn vẹn đầy đủ.
Nhân cách: Đức Phật là một mẫu người siêu việt trong tam giới. Là một Đạo sư khả kính của trời người. Là một biểu tượng của lòng vị tha và nhân ái.
Học làm Phật: là học những điều Phật đã học, đã tu và đã chứng, học cách để chuyển một chúng sanh thành một vị Phật. Học cách để làm sáng lên đức Phật sẳn có trong mỗi con người.
3/ Sự tương quan mật thiết giữa Phật học và Học Phật:
- Tu mà không học là tu mù; Học mà không tu là đãy sách: Có kiến thức về Phật học cho một phật tử đi trên con đường tầm đạo là một điều kiện cần thiết nhưng chưa đủ. Bởi vì nếu chỉ có kiến thức thì đó thuộc phần phân biệt của tâm thức, không cẩn trọng chỉ làm tăng thêm bản ngã của mỗi người. Kiến thức chỉ mang lại sự hiểu biết nhưng không mang lại sự giải thoát và giác ngộ, sự dập tắt bản ngã, bứng rể phiền não nguồn gốc của khổ đau. Như vậy, cần phải lấy kiến thức đó, áp dụng vào trong cuộc sống thường ngày, để đối trị thói quen, tật xấu, và nghiệp chướng phiền não của chính mình, thì đó mới chính là ích lợi thiết thực của việc học Phật và mới đủ khả năng xây dựng một xã hội tốt đẹp.
- Tri hành hợp nhất: Thế giới bao gồm cả hai mặt tương đối và tuyệt đối, sự việc nào luôn có hai mặt của chúng. Việc tu tập cũng thế, học mà không hành thì không có kết quả thiết thực. Việc học và hành trong đạo phật rất cần thiết, và luôn song hành với nhau, không thế tách rời được, cũng không thể thiếu cái này và cái khác mà nhất thiết phải được xem là một. Học mà không tu cũng giống như chúng ta đọc mớ lý thuyết đã chết, không có kết quả gì cả, ngược lại có tu tập thì lời dạy của Phật trở nên sống động, những bài pháp sống.
III/ Kết luận:
-Tin Ta mà không hiểu Ta là hủy báng Ta. Đây là lời nói của đức Phật nhắc nhỡ đến hàng đệ tử của Ngài, không đến với Ngài chỉ vì lòng tin, mà phải từ sự nhận định sáng suốt, có hiểu biết.
- Cần phải nổ lực tìm hiểu hơn nữa, hiểu rồi cần phải thực hành. Có thực hành thì mới mong có kết quả trong việc tu tập, ích lợi trong khi học đạo. Học đạo mà không thực hành giống như chúng ta đi ăn ở nhà hàng, chỉ đọc thực đơn mà không ăn. Học Phật mà không thực hành, áp dụng sự hiểu biết và đời sống thì việc học đạo chỉ đứng ngoài cửa ngõ chứ chưa vào được nhà Như lai.
--------------------------
Tài liệu tham khảo:
1-Phật học Phổ Thông. Cố Hòa thượng Thích Thiện Hoa biên soạn.
2-Phật học Tinh Yếu. Cố Hòa Thượng Thích Thiền Tâm biên soạn.
3-Phật học Quần Nghi. Hòa thượng Thánh Nghiêm biên soạn, Thích Minh Quang dịch.
-----------------------
Câu hỏi tìm tòi suy nghĩ:
1-Phật học là gì? Học Phật là gì?
2-Sự tương quan giữa chúng trong đời sống tu tập?
3-Nội dung Phật học gồm những gì?
4-Thiết thực của việc tu học là gì? Hãy nêu một số kinh nghiệm cụ thể về mặt tiêu cực cũng như tích cực khi học phật.
--------------------------------
SỔ TỨC - NIỆM PHẬT
Con đường đi đến mục đích tối hậu của đạo Phật là Giải thoát và Giác ngộ thì có rất nhiều, điều này rất hữu ích và thiết thực trong bối cảnh đa dạng về nghiệp cảm và sự sai khác về chủng tánh của chúng sanh. Đức Phật với suối nguồn tuệ giác, ngài đã quan sát đầy đủ mọi căn cơ của chúng sanh mà dùng nhiều phương tiện để hóa độ, phù hợp với mọi tâm bệnh như vị lương y giỏi dựa theo bệnh mà cho thuốc. Sổ tức -Niệm Phật là một trong vô lượng pháp môn để người Phật tử có thể nương vào để có thể giải trừ được Tham- Sân- Si từ nhiều đời, thành tựu được giải thoát, chấm dứt mọi phiền não trói buộc chúng ta trong luân hồi sinh tử trên căn bản của Giới-Định -Tuệ.
Trong ba món vô lậu học Giới Định Tuệ, thì Định được xem là mấu chốt, chiếm vị trí quan trọng để thành tựu những chi phần còn lại. Sổ tức có thể được xem là phương pháp ban đầu để cột tâm, trụ ý và dễ dàng đi vào thiền định. Niệm Phật cũng là một phương pháp hướng tâm về một chỗ (Nhất tâm bất loạn). Những phương pháp này được xem là phù hợp với nhiều lứa tuổi, mọi trình độ và ở bất cứ hoàn cảnh nào cũng có thể thực tập được mà không cần phải có thời gian để chuẩn bị sửa soạn nhiều và công năng trị tâm tán loạn lại khá hiệu quả.
I/ Sổ Tức:
a.Định nghĩa: Sổ tức hay còn gọi là Quán sổ tức nghĩa là quán từng hơi thở và đếm hơi thở.
b.Phương pháp: Theo dõi hơi thở ra vào một cách nhẹ nhàng, chậm rãi và thong thả trong sự chú ý, đếm từng hơi thở từ 1 đến 10 và ngược lại. Cách theo dõi hơi thở này, mục đích là để kiểm soát và đối trị với tâm thường xuyên tán loạn, chạy theo trần cảnh của chúng ta. Do đó, trong khi đếm hơi thở nếu bị lộn xộn thì không nên cố gắng để nhớ là mình đang đếm đến số mấy, hoặc nghi ngờ mình đếm không chính xác thì bắt đầu đếm lại từ đầu một cách rõ ràng.
c. Trước khi sổ tức:
-Điều hòa ăn uống: Luôn luôn giữ một trạng thái thân thể ổn định nghĩa là không nên ăn quá no, cũng không nên thực tập lúc quá đói, không ăn những thức ăn làm cho thân thể trở nên trì trệ, mệt mỏi khó tiêu, sình hơi, ợ, hoặc dùng những thức ăn có nhiều kích thích tố, hoặc uống những loại thuốc gây dễ buồn ngủ trước khi vào thực tập. Như vậy dễ gây mất tập trung và thời gian thực tập sẽ không được kéo dài lâu.
-Điều hoà thân thể: Có nhiều cách ngồi, tuỳ theo mỗi người mà cách ngồi có khác nhau, hoặc là kiết già, bán già, hoặc ngồi theo cách riêng mỗi người miễn là cảm thấy thoải mái, có thể ngồi thực tập được lâu, tuy nhiên chú ý đừng dễ dãi quá mức sẽ dẫn đến biếng nhác. Ngồi theo kiết già là ngồi để chân mặt trên bắp vế chân trái, bàn chân trái trên bắp vế chân mặt, phương pháp ngồi này sẽ khó tập cho nhiều người, nhưng nếu thực tập được sẽ ngồi được lâu. Ngồi bán già là ngồi để chân mặt trên bắp vế chân trái (hoặc ngược lại ).Trước khi ngồi thực tập cần nên tắm rữa sạch sẽ để tránh tình trạng ngứa ngáy, áo quần gọn gàng thật thoải mái không nên bận đồ quá sát, chật trội, dễ gây khó chịu. Tay thì để hai ngón cái chạm vào nhau và để trên lòng bàn chân. Lưng giữ tư thế thăng bằng, đừng khom lưng quá, mặt thì hướng thẳng phía trước, mắt hơi nhìn xuống (nhìn sống mũi của mình) và khép lại vừa không thấy ánh sáng bên ngoài. Nên uốn thân hình ra sau và hai bên vài lần để lấy thế thân bằng, tạo cho thân ngồi được vững vàng như núi.
-Điều hoà hơi thở: Khi ngồi vừa thẳng chưa nhắm mắt, nên hít không khí vào bằng mũi thở ra bằng miệng, thở chậm rãi, không vội vã và thở nhiều lần như vậy, sau đó mới vào phép đếm hơi thở. Trước khi đếm hơi thở cần kiểm soát lại hơi thở của mình đã nhẹ nhàng, đừng thở có tiếng động, không bực tức, tắc ngẽn, đứt quảng, thở một cách thông suốt.
-Chổ ngồi thực tập: Thông thường khi thực tập ngồi quán sổ tức (hoặc ngồi thiền), hành giả cần có bồ đoàn để tạo thêm sự cân bằng cho tư thế, tuy nhiên điều này sẽ không cần cho nhiều người. Cần nên tìm chổ ngồi cho thoáng mát, yên tĩnh, ít người, hoặc không có người cho những người mới thực tập, ánh sáng vừa đủ, không sáng quá cũng không nên tối quá.
d- Cách đối trị: Thông thường khi thực tập hành giả sẽ đón nhận nhiều chướng ngại có thể xảy ra, từ thân hoặc từ tâm.
- Nếu tinh thần rơi vào trạng thái mê ngủ thì nên dồn sức tập trung hơn nữa, để tâm chú ý vào sóng mũi của mình, hoặc buồn ngủ quá sức thì cần nên đứng dậy đi thư giản, rữa mặt lấy lại tỉnh táo. Hoặc tâm tán loạn thì để tâm nơi rốn mà chú ý, hoặc nhận “biết” những gì đang xãy ra nơi tâm, chú ý chỉ là điều gì chứ không phải là nội dung của nó, và trở lại đếm hơi thở.
-Khi thấy ngực hơi tức, đầu hơi nặng đó là trạng thái căng thẳng, cần nên buông xã tâm trí, không bám víu tập trung thêm và phải trở lại nhẹ nhàng trong hơi thở. Buông thả giống như chúng ta buông bỏ những số đếm sai trái và bắt đầu thực tập lại từ đầu.
-Trong khi ngồi, nếu thấy cảnh giới lạ cho đến cảnh Phật, hay có những niềm hạnh phúc, đã xảy ra trong quá khứ, trong cuộc đời của mình không nên để tâm nương vào đó, bởi vì những hiện tượng ấy điều là những chướng ngại cho sự phát triển trí tuệ, không phải là phép tu của Phật giáo. Sự an lạc, khinh an chỉ xảy ra khi tâm trong trạng thái dứt bỏ các vọng niệm.
e- Thời gian: Làm việc gì cũng vậy đòi hỏi cần có kiên trì, nhẫn nại thì mới có kết quả thiết thực. Ví dụ như chúng ta học ngoại ngữ, nếu học mà không đều đặn, thường xuyên mỗi ngày thì việc học ngoại ngữ sẽ không có kết quả. Việc tu hành là việc khó, do đó cần phải nổ lực hơn nữa. Thường thì thời gian buổi sáng sớm là thời gian tốt nhất để thực tập, tuy nhiên tuỳ theo hoàn cảnh của mỗi người chọn cho mình một thời gian thích hợp. Mới ban đầu thực tập không nên thực tập quá lâu, chỉ cần mười phút, mười lăm phút và sau đó tăng dần nữa giờ và một giờ cho đến 2-3 giờ , vì ban đầu mà tập lâu quá dễ sanh chán nãn, bỏ cuộc. Sau buổi tập nào thấy thân tâm nhẹ nhàng, tinh thần hưng phấn, có nghĩa là buổi tập đó có kết quả.
g-Thái độ: Tu tập tỉnh tọa nhất là tu tập thiền định Phật giáo, mục đích hiện tại là để có sự an lạc tự thân, và cuối cùng là vược qua khỏi sợ hãi của hoàn cảnh và đạt được trí tuệ-giải thoát. Thiền định Phật giáo không phải thực tập để đạt đến mục đích nào khác, không phải để tăng trưởng bản ngã, cũng không phải để khoe khoang sự chứng đắc thần thông ..v.v Như vậy, không cần thiết phải khoe khoang, tự ca ngợi mình. Vì tất cả những ý niệm ấy là tà kiến.
Lưu ý: Phương pháp thiền định hay tỉnh tọa là phương pháp kiểm soát tâm trong ý nghĩa sơ đẳng, do đó khi thấy tâm có gì thay đổi hay vướng kẹt cần nên chia sẽ với người có kinh nghiệm tu tập. Tốt nhất khi chúng ta muốn thực tập pháp môn này trước hết phải hiểu rõ lý thuyết và tìm Thầy bạn bên cạnh để thực tập ban đầu. Phương pháp sổ tức là một trong những phương pháp cơ bản để tu tập thiền định Phật giáo như là phương pháp Quán tưởng, quán tánh, quán tượng. Phép quán thì có Quán sổ tức, Quán nhân duyên, Quán từ bi, Quán bất tịnh và Quán giới phân biệt (Ngũ đình tâm quán) hoặc quán Tứ Niệm xứ, Quán Vô Lượng thọ..v.v. Khi quán sổ tức một cách nhuần nhuyễn rồi thì có thể đi vào thực tập từng phép quán khác, tức có thể dễ dàng đi vào thực tập thiền định.
Bên cạnh đó, chúng ta có thể áp dụng phương pháp niệm Phật để thay thế cho pháp Sổ tức.
II/ Niệm Phật:
Có hai phương pháp Niệm Phật: Trì danh và Quán niệm. Chủ đích là chuyển đổi tà niệm thành chánh niệm, ác cảnh thành thiện cảnh, dứt sạch các vọng tưởng, thấy được thực tướng của vạn pháp.
Trì danh tức là niệm chuyên một danh hiệu đức Phật hoặc là danh hiệu một vị Bồ tát nào đó, ví như danh hiệu đức Phật A Di Đà. Nam Mô A Di Đà Phật hoặc là Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát. Sáu chữ hoặc bảy chữ cho rõ ràng, liên tục không nên để tạp niệm xen vào. Có thể niệm bất cứ lúc nào, trong mọi tư thế, lúc ngồi xe, lúc quét nhà..v.v..
Quán niệm tức là nhớ nghĩ đến một đức Phật, nhớ nghĩ đến đức tính cao đẹp của Ngài, tưởng đức Phật đang đứng trước mặt mình, tưởng đến 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp của Ngài.
A-Những Pháp niệm Phật:
1-Sổ châu niệm Phật: Niệm một danh hiệu, lần một hạt chuổi, chuyên tâm không để vọng niệm xen vào, niệm bao nhiêu chuổi tuỳ theo khả năng, tâm phát nguyện.
2-Truy đảnh niệm Phật: Chữ này liền với chữ kia cho đến khi hết thời gian mình đã định. Chú tâm liên tục không ngưng nghĩ.
3-Phản văn niệm Phật: Khi miệng niệm Phật thì tai chú ý đến tiếng niệm Phật của mình mà theo dõi, dù niệm lớn hay niệm nhỏ. Chủ đích là để ngăn ngừa ý tưởng, vọng niệm bên ngoài xen lẫn vào.
4-Ban châu niệm Phật: Vừa đi vừa niệm, hoặc đi kinh hành trong điện Phật, hoặc đi bách bộ trong sân, cũng có thể đang đi trên đường.
5-Chuyên niệm niệm Phật: Niệm liên tục, luôn ngày lẫn đêm, bất cứ ở đâu, chổ nào hể tâm vọng động là niệm,nhớ nghĩ là niệm. Ban đầu dùng phương pháp truy đảnh, sau đó là phương pháp quán tưởng cho đến khi nhất tâm bất loạn.
B-Cách thức niệm Phật:
1-Cao Thanh niệm Phật : Niệm lớn tiếng, tụng theo nhịp mõ.
2-Đê thanh niệm Phật: Chỉ niệm vừa mình nghe, không lớn tiếng phù hợp cho vừa niệm vừa quán.
3-Mật niệm niệm Phật: Không niệm có tiếng như 2 cách trên , ở đây chỉ niệm Phật bằng trí, áp dụng lúc đi ngoài đường hoặc lúc đang ngồi làm việc.
4-Sổ thập niệm Phật: Phối hợp 2 phương pháp Sổ tức và Niệm Phật. Một hơi thở ra một niệm Phật và hơi thở vào một niệm Phật.
C-Thực tướng niệm Phật:
Thật tướng niệm Phật tức là niệm Phật có phối hợp với chơn tâm vì tất cả các pháp đều do tâm sanh (Nhứt thiết duy tâm tạo). Do đó niệm Phật là tìm hiểu chánh lý và thông đạt thật tướng của sự vật. Thật tướng là ly tướng là không có bám vào tướng nào hết mà sanh tâm (Kinh Kim Cương). Phật và chúng sanh đều không ngoài tự tâm, mê là chúng sanh và Phật là ngộ. Niệm Phật chính là thấy được giác tánh của mình, ngoài giác tánh ấy không còn đức Phật nào để niệm.
Niệm Phật đến chổ nhất tâm chính là chổ không còn phân biệt, thuần diệu, thuần tịnh, lúc ấy Ta và Phật không hai không khác. Không thấy có phiền não để trừ, chúng sanh nào để độ, pháp môn nào để tu và Phật đạo nào để thành.
Sổ tức và Niệm Phật là hai phương pháp cơ bản , là nấc thang ban đầu để đi sâu vào định tĩnh và để đạt được giải thoát, phù hợp với nhiều căn cơ và nhiều hoàn cảnh. Khi chúng ta chuyên tâm thực tập và thực hành đúng pháp thì ích lợi sẽ thấy rõ trong từng giờ thực tập và trong đời sống của chúng ta, hướng đến là dứt trừ vọng tưởng, phiền não cuối cùng là giác ngộ -giải thoát.
-----------------------------
Tài liệu tham khảo
Thích Nhất hạnh, Trái Tim Của Bụt. Nxb Lá bối, 1997.
Minh Châu-Thiên Ân-Chơn Trí-Đức Tâm, Phật Pháp, Nxb Tp. Hồ Chí Minh, 1997.
H.T. Thích Thiện Hoa, Phật Học Phổ Thông, Thành hội Phật giáp Tp. Hồ Chí Minh ấn hành, quyển I-II-III.1992.
Gia Đình Phật tử Việt Nam, Tài liệu tu học Bậc Kiên. Ban hướng dẫn trung ương GĐPTVN.PL: 2545-2001.
Câu hỏi tìm tòi- suy nghĩ:
1-Quán sổ tức là gì? Khi thực tập quán sổ tức cần phải chuẩn bị những gì?
2-Niệm Phật là gì? Có bao nhiêu cách niệm Phật?
3- Làm thế nào để áp dụng 2 phương pháp này trong cùng một lúc?
4-Thực hành hai phương pháp này thế nào cho đúng nghĩa, đúng pháp?
5- Nói lên vai trò quan trọng của hai phương pháp này trong Phật giáo?
----------------------------
NGŨ GIỚI
Để trở thành một người Phật tử, việc phát nguyện Quy y Tam Bảo và giữ gìn Ngũ giới là tâm nguyện, là việc cần làm đầu tiên. Do đó, chúng ta cần phải học và tìm hiểu, để thực hành hầu mang lại nhiều lợi lạc cho chính chúng ta, gia đình và khả dĩ kiến tạo một xã hội tốt đẹp.
I- Ngũ giới
Ngũ Giới là năm điều răn cấm mà Đức Phật đã chế dành cho Phật tử tại gia, là nền tảng để bước lên những giới pháp rộng lớn hơn. Ý nghĩa của năm giới nhằm mục đích giúp cho người con Phật ngăn ngừa những ý tưởng xấu ác, những hành động bất chánh và những lời nói thiếu cẩn trọng để khỏi phải hại mình hại người.
Giới nhà Phật chế ra, mục đích khiến mỗi người tự hoàn thiện lấy mình và hướng tới một con người toàn diện, chân - thiện - mỹ. Giới nhà Phật không phải là sự bắt buộc, áp đặt vào một ai mà chính là sự tự nguyện thực hiện của mỗi người nhận lãnh. Đức Phật không phải là một vị thần linh tối cao, cũng chẳng phải là vị quan tòa cầm cân nảy mực mang tích chất thưởng phạt. Ngài chỉ là một vị Thầy dẫn đường cho chúng ta thấy đâu là con đường trong sáng, cao thượng cần phải đi và đâu là con đường tối tăm cần phải tránh.
Năm giới chính là thành trì để ngăn chặn ba nghiệp xấu từ thân, miệng, ý của chúng ta và tạo một cuộc sống an bình. Sống và thực hành giữ gìn năm giới này chúng ta không rơi xuống vực sâu của tội lỗi, nghiệp chướng. Do đó, giới mang một tinh thần đặc biệt; người mà giữ được giới nào thì có an lạc và giải thoát ở giới đó. Càng khép mình trong nhiều giới thì chúng ta càng không gây thêm những nghiệp nhân trong đời sống hiện tại cũng như nhận lấy những nghiệp quả trong tương lai, và để có một đời sống thật trong sáng, không sợ hãi. Năm điều răn cấm đó là:
1. Không được giết hại.
2. Không được trộm cắp.
3. Không được tà dâm.
4. Không được nói dối.
5. Không được uống rượu.
II- Năm giới:
1.Không được giết hại:
Phật khuyên chúng ta không được giết hại, làm tổn thương đến sinh mạng từ loài nhỏ cho đến loài lớn, từ loài người đến loài vật. Vì chúng sanh ai cũng tham sống sợ chết đây là điều tất yếu, không những chỉ xãy ra giữa con người có tình thức và sự hiểu biết mà còn bao hàm cả súc sanh. Sinh mạng của mỗi loài đều có giá trị cao quý khác nhau, phải được tôn trọng. Do đó, tư tưởng giết loài vật để phục vụ cho tham dục và nhu cầu của con người là điều không thích hợp với cái nhìn của thời đại văn minh, thiếu nhân tính, bởi tình thương là yếu tố khác biệt giữa loài người và các loài khác.
Đạo Phật cấm giết hại với nhiều lý do sau:
a. Tôn trọng sự sống, sự cân bằng của loài khác: Sinh mạng là báu vật tuyệt đối mà tất cả chúng ta ai cũng muốn gìn giữ. Quý trọng sinh mạng mình lại muốn chà đạp lên sinh mạng người khác là điều vô lý. Đức Phật dạy: “...ai cũng sợ chết. Vậy nên lấy lòng mình suy lòng người, chớ giết, chớ bảo giết”.
b. Nuôi dưỡng lòng từ: Lòng từ bi của Đức Phật xem tất cả mọi loài như con, ai cũng có nỗi khổ và có quyền được kiến tạo hạnh phúc cho riêng mình, mỗi người cần nên tôn trọng. Học đức tánh từ bi của Ngài, là người Phật tử chúng ta không nên giết hại sinh vật bất cứ trong trường hợp nào. Vì lòng từ bi chúng ta không nỡ thấy con vật đau đớn, nghe tiếng kêu la khổ sở. Do đó, chúng ta không nỡ ăn thịt, không nỡ giết hại.
c. Tránh nhân quả báo ứng: Để tránh nhân sát hại cũng như nhận lãnh quả báo giết hại. Chúng ta thực hiện không giết hại sẽ có lợi ích sau:
* Phương diện cá nhân: Không sát hại, không mang tâm tàn sát lẫn nhau thì chúng ta có được tâm thái không sợ sệt lại bình an, tâm không hối hận với việc làm của mình, ngũ nghĩ được yên giấc, nhẹ nhàng không có ác mộng.
* Phương diện xã hội: Người người không mang tâm giết hại, thù oán lẫn nhau, nhà nhà không giận dữ, oán thù xâm chiếm với nhau, xã hội đó sẽ không có chiến tranh, thế giới sẽ có được hoà bình thịnh vượng, an lạc.
2.Không được trộm cắp:
Trộm cắp là lấy những vật thuộc của người khác khi họ không cho phép, không được sự ưng thuận của người có vật đó, hoặc cho đến cưỡng ép, bức bách hay lừa đảo họ để lấy.
Vì những lý do sau đây Ðức Phật khuyên đệ tử của Ngài không được trộm cắp:
a.Tôn trọng sự công bằng - quyền sở hữu: Trong chúng ta ai cũng mang một tâm lý: không muốn ai lấy những gì thuộc về mình. Do đó, mang tâm lấy của người khác là một điều nghịch lý. Một xã hội văn minh, con người có tri thức thì không thể tồn tại những nghịch lý này
b. Vì lòng từ bi: Chúng ta sẽ gặp khó khăn, đau khổ khi mất mát tiền bạc, của cải, vậy người khác cũng thế. Vì lòng thương yêu và biết chia xẽ nỗi khó khăn đến với mọi người chúng ta không nên chiếm hữu của người khác bằng nhiều lý do khác nhau.
c. Tránh nghiệp quả: Lấy của người khác là một hành động xấu - lòng tham ít được con người chấp nhận - lấy những vật ít giá trị thì trở thành bất tín, vật lớn thì bị tù đày. Người giữ được giới này thì dĩ nhiên không rơi vào những trường hợp trên và không bị khinh thường, tương lai không bị sụp đổ bởi tiếng xấu.
d. Xây dựng xã hội thanh bình: Nếu con người sống trong xã hội ý thức và giữ gìn giới này chắc chắn có một xã hội mà ở đó con người không lo âu, phập phòng trong đời sống bởi xung quanh có quá nhiều sự mất mát, không lo lắng có kẻ nhìn ngó đến tài sản của mình.
3.Không được tà dâm:
Tà dâm là muốn nói sự dâm dục không đoan chính. Khởi tâm dâm dục với vợ (hoặc chồng) người, lén lút lang chạ với người khác gọi là tà. Phật cấm hàng cư sĩ tại gia không được tà dâm với mục đích để tôn trọng hạnh phúc của mọi người, bảo vệ hạnh phúc gia đình mình và gia đình người khác. Tránh oán thù và gieo quả báo xấu xa, đen tối.
a. Phương diện cá nhân: Lợi ích của việc giữ giới thứ ba được diễn tả trong kinh Thập Thiện như sau:
- Sáu căn được vẹn toàn.
- Trọn đời được kính trọng.
- Không có phiền lụy quấy nhiễu.
- Gia đình hạnh phúc, không ai xâm phạm.
b. Phương diện xã hội: Lợi ích không tà dâm được biểu hiện rõ rệt trong một xã hội không có thù hằn giữa vợ chồng này với vợ chồng khác, trẻ em không bị bỏ rơi bởi cha mẹ chúng tham dâm và xã hội sẽ cường thịnh.
4.Không được nói dối:
Nói dối là nói sai sự thật, nói thêu dệt, nói lưỡi hai chiều, nói lời hung ác.
a. Nói sai sự thật: Nói lời không thật, nói ngược vấn đề, có nói không, không nói có, trái nói phải, phải nói trái. Tóm lại, nội dung, ý nghĩa và lời nói không đi đôi với nhau.
b. Nói thêu dệt: Nói cho người nghe xiêu lòng, khó xử, nói cho người nghe mát dạ.v.v... tất cả đều là thêu dệt.
c. Nói lưỡi hai chiều: Đến bên này thì hùa theo nói xấu bên kia, qua bên kia thì ngược lại, tạo thêm sự oán thù, hiểu nhầm giữa hai bên, ngăn cách sự hòa hợp.
d. Nói lời hung ác: Là lời nói cộc cằn, thô tục, chửi rủa làm cho người nghe đau khổ, buồn rầu, chán nản, sợ hãi...
Phật khuyên không nên nói dối với những lý do sau đây:
a. Tôn trọng sự thật: Người Phật tử phải tôn trọng sự thật, nói sai sự thật sẽ bị trở ngại đường đạo - con đường đi tìm giác ngộ, sự thật.
b. Vì lòng từ bi: Nói chủ đích để dẫn người khác đến đau khổ oán thù với nhau, dẫn đến người khác vì lời nói của mình lắm lúc phải bức tử. Đó là thiếu tình thương, không có lòng từ bi. Là Phật tử phải nên thận trọng và nuôi dưỡng lòng từ.
c. Xây dựng sự trung tín: Từ cá nhân gia đình đến xã hội không ai tin mình, không ai tin ai thì sẽ không thành tựu được công việc, không thể hợp tác làm việc được bất cứ ở đâu, từ việc lớn đến việc nhỏ.
d. Tránh nghiệp báo khổ đau: Con người sỡ dĩ hại ngược lại chính mình bởi từ miệng mà sinh (họa tùng khẩu xuất) là do trong lời nói chứa đầy gươm dao. Là Phật tử, không nên sống như thế, chỉ tạo thêm nghiệp báo xấu ác.Lợi ích không nói dối từ cá nhân đến xã hội: cá nhân được tôn trọng không gây oán thù, được tin cậy trong giao dịch, xã hội gắn bó, yêu thương và thông cảm.
5.Không được uống rượu:
Nghĩa là không được uống những chất kích thích, làm say người. Không uống, không ép người uống, không khuyến khích người khác uống say để làm não loạn tâm trí của họ. Uống để chữa bệnh thì có thể được. Đức Phật khuyên hàng Phật tử không được uống rượu vì những lý do sau:
a. Nuôi dưỡng hạt giống trí tuệ: Có rất nhiều người vì uống rượu tự biến mình thành kẻ sống như đã chết. Chết mất sự hiểu biết, cuồng loạn tâm trí, lay lất không định hướng. thuốc độc nguy hiểm nhưng đôi lúc vẫn không bằng rượu. Vì thuốc độc chỉ hại chết một đời người một lần, nhưng rượu làm tiêu tan hạt giống trí tuệ, phải chết đi sống lại nhiều lần và có thể làm chết đến nhiều người.
b. Ngăn ngừa những nguyên nhân tội lỗi: Uống rượu không chỉ phạm vào giới uống rượu mà còn có thể phạm vào nhiều giới khác nữa bởi lẽ không làm chủ được thân và tâm.
Lợi ích không uống rượu:
a. Về cá nhân: Vun trồng được hạt giống trí tuệ, giữ gìn sức khoẻ, tránh bệnh tật, tâm trí được tỉnh táo.
b. Phương diện quần thể: Gia đình yên vui, con cái ít bệnh tật, xã hội an hoà.
III- Kết luận:
Giới trong nhà Phật chính là: “Phòng phi chỉ ác” nghĩa là ngăn ngừa những hành động phi pháp, ngăn chặn những hành động độc ác. Chính đó là căn bản của giải thoát.
Giới là một trong ba môn học: Giới - Định - Tuệ, con đường dẫn tới Niết bàn an lạc.
Giới là giềng mối để thiết lập con người, gia đình và xã hội toàn thiện.
---------------------------
BÁT CHÁNH ĐẠO
I/ Mở đề:
Bát Chánh Đạo hoặc Bát Thánh Đạo là giáo lý căn bản của Đạo đế (trong Tứ Đế) gồm ba mươi bảy phẩm trợ đạo. Đây là những phương tiện hành trì phổ biến sâu rộng chung cho Ngũ thừa Phật giáo.
Trong bài pháp Tứ đế đầu tiên đức Phật giảng tại vườn Lộc Uyển, về phương pháp hành trì hay Đạo đế, con đường dẫn đến an vui Niết bàn. Đức Phật đã long trọng chỉ Bát thánh đạo cho năm bạn đồng tu là nhhóm Kiều Trần Như. Đó là con đường thánh gồm tám chi: Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm và Chánh định.
II/ Nhập đề:
A-Định nghĩa:
Bát chánh đạo là con đường chân chánh có tám chi, giúp chúng sanh hướng đến một đời sống cao thượng, hạnh phúc. Bát thánh đạo là tám phương tiện vi diệu đưa chúng sanh đến đời sống an lạc, giải thóat, tiến đến địa vị giác ngộ. Những bậc Hiền, Thánh nương theo tám phương tiện này để đi đến Niết bàn, Phật quả.
B-Nội dung Bát chánh đạo:
1-Chánh kiến: Chánh là ngay thẳng, đúng đắn; Kiến là thấy, nhận biết. Nghĩa là sự nhận thức sáng suốt và hợp lý trên căn bản của trí tuệ, không còn vướng bụi của tà kiến, mê lầm vọng chấp.
-a. Hiểu biết chân chánh:
-Hiểu biết tất cả sự vật hiện hữu trên thế gian này đều do nhân duyên sanh, không trường tồn và luôn luôn biến diệt.
- Nhận thức rõ nhân quả- nghiệp báo để hành động.
- Nhận thức rõ giá trị hiện hữu của thân người và mọi vật xung quanh.
- Nhận thức rõ Khổ- Vô thường- Vô ngã của vạn pháp.
- Nhận thức rõ tất cả chúng sanh cùng một bản thể thanh tịnh.
- Nhận thức rõ Tứ đế- Thập nhị nhân duyên, không chấp thường , chấp đọan.
-b. Hiểu biết không chân chánh:
- Chấp Thượng đế tạo vật, không tin lý nhân quả nghiệp báo.
- Phủ nhận mọi sự vật hiện hữu, không nhận thức chúng từ nhân duyên sanh.
- Chấp vào thành kiến; quan niệm không bình đẳng giữa người và muôn vật.
- Cố chấp vào kiến thức vọng tưởng; không tin vào những quả vị giải thóat.
2- Chánh Tư Duy: Tư duy là suy nghĩ. Chánh tư duy là suy nghĩ chân chánh, là suy nghĩ không trái với lẽ phải, có lợi cho mình và cho người.
a. Suy nghĩ chân chánh:
-Suy nghĩ đến nguyên nhân đau khổ của mình và chúng sanh, ở đó vô minh là nguồn gốc của mọi tội lỗi, để biết mà tu tập hầu tìm được giải thóat cho mình và cho người.
- Suy nghĩ đến Giới- Định –Huệ làm căn bản tiến tu đến quả vị Niết bàn.
b. Suy nghĩ không chân chánh:
-suy nghĩ đến lợi dưỡng, tài sắc, danh vọng tìm trăm mưu nghìn kế để hại người.
- Suy nghĩ đến nhiều cách để hơn người, mọi mưu mô để trả thù; dùng tà thuật; dựa vào lòng tin của con người để mê hoặc.
3- Chánh ngữ: Ngữ là lời nói. Chánh ngữ là lời nói chân thật không hư dối, có lợi ích chính đáng, công bình, ngay thẳng và hợp lý. Lời nói không làm tổn hại đến đời sống cùng danh dự của người khác.
-a. Lời nói chân thật:
-Lời nói ngay thẳng, thành thật, hợp lý không thiên vị, hòa nhã, giản dị và sáng suốt.
-Lời nói lợi ích, đồng nhất và mang tính chất sách tấn, khuyến tu, mở bày ánh sáng giác ngộ tự tâm trong mỗi tha nhân.
-Lời nói mang tính chất tuyên dương đạo lý làm người; tuyên dương chánh pháp Từ bi và Trí tuệ.
-b. Lời nói không chân thật:
- Lời nói gây chia rẽ, không đúng sự thật.
-Lời nói để hại người, xuyên tạc, thiên vị, dua nịnh.
- Lời nói nguyền rủa , mắng nhiếc, vu họa và thô tục.
- Lời nói để bảo vệ Ngã và Ngã sở.
4- Chánh nghiệp: Nghiệp gốc từ chữ Phạn được Trung hoa dịch ra, có nghĩa là hành động có tác ý. Chánh nghiệp nghĩa là hành động tạo tác trong đời sống cần phải sáng suốt chân chánh.
-a. Hành động chân chánh:
- Hành động theo lẽ phải, biết tôn trọng quyền sống chung của mọi người, mọi lòai.
- Hành động có thận trọng không tổn hại đến nghề nghiệp, tài sản, danh giá và địa vị của kẻ khác.
- Hành động chân chánh là hành động có lương tâm, đạo đức trong địa vị của mình, biết gìn giữ tánh hạnh.
- Biết hy sinh chánh đáng để đem lại lợi lạc cho quần sanh.
-b. Hành động không chân chánh:
-Hành động không gìn giữ các phép tắc, giới điều.
- Hành động chỉ vì lợi mình mà hại người.
5- Chánh mạng: Mạng là sự sống, đời sống. Đời sống chân chánh nghĩa là sống một cách chân chánh bằng nghề nghiệp lương thiện, chính đáng không bóc lột, xâm hại đến lợi ích chung của người khác.
-a. Đời sống chân chánh:
-Sống bằng khả năng, tài năng chân chánh, không lừa dối gạt người.
- Sống thanh cao, đúng chánh pháp không mê tín.
-b. Đời sống không chân chánh:
- Làm tổn hại và não lọan tâm trí mọi người.
- Sống luồn cúi, dùng miệng lưỡi, mối lái để giao dịch thân thiện.
- Sống chạy theo mê tín, dị đoan; sống nương tựa ăn bám vào kẻ khác.
6- Chánh tinh tấn: Tinh tấn là siêng năng, chuyên cần. Siêng năng chuyên cần chân chánh thẳng tiến đến mục đích và lý tưởng mà Phật đã dạy. Hăng say làm những việc chính đáng mang lợi ích cho mình và cho người.
a. Chuyên cần chân chánh:
- Quyết tâm lọai bỏ các việc ác đã sanh, ngăn ngừa những việc ác chưa sanh.
- Chuyên làm các việc lành việc tốt.
- Chuyên cần trau dồi phước đức và trí tuệ.
b. Chuyên cần không chân chánh:
- Là người say sưa với ngũ dục và khóai lạc.
- Là kẻ say sưa lạc thú làm tổn hại đến người khác, không tiết chế bản thân.
7- Chánh niệm: Niệm là ghi nhớ, nhớ nghĩ. Nhớ nghĩ chân chánh. Chánh niệm có 2: Chánh ức niệm và chánh quán niệm. Ưc niệm là nhớ nghĩ đến quá khứ, những chuyện đã qua. Quán niệm là quán sát cảnh hiện tại và bắt đầu của tương lai.
a. Ức niệm chân chánh:
- Nhớ đến tứ ân.
- Nhớ đến những lỗi lầm xưa, đừng để tái phạm trong hiện tại và tương lai.
b. Ức niệm không chân chánh:
- Nhớ lại những óan hận để phục thù.
- Nhớ lại những hạnh phúc mong manh không ích lợi.
- Nhớ lại hành động oai hùng, dùng thủ đọan xảo trá, tàn bạo đã qua để hãnh diện tự đắc.
-c. Quán niệm chân chánh:
- Quán niệm Từ bi: Thấy nỗi khổ của chúng sanh trong luân hồi sanh lòng thương xót, tìm nhiều phương tiện để giúp đở họ. Thấy sự mê lầm của mình và người dẫn đến sầu, bi , khổ, ưu và não, thực hành lời Phật dạy để chấm dứt mê lầm.
- Quán niệm Trí huệ: Quán niệm nguyên nhân sanh hóa vũ trụ, óan thân, tốt xấu, cao thấp; quán niệm thực tướng của các pháp để vững tiến trên con đường giải thóat.
-d. Quán niệm không chân chánh:
- Nhớ nghĩ đến dục lạc, khóai cảm.
- Nhớ nghĩ đến kế sách, âm mưu và phương tiện giết hại lẫn nhau.
- Nhớ nghĩ đến văn tự xảo trá để gạt người.
8- Chánh định: Định trong Phật học hiểu là Thiền định. Định nghĩa là tập trung tư tưởng tu tập thiền định. Chánh định là tập trung tư tưởng vào vấn đề chính đáng, đúng chân lý, lợi mình và người.
-a. Thiền định chân chánh:
- Bất tịnh quán: quán các pháp không thanh tịnh, để trừ tham dục, si ái v.v…….
-Từ Bi Quán : Quán sát tất cả chúng sanh đồng thể tánh thanh tịnh, không hơn không kém để tôn trọng, kính quý và đọan trừ tâm hận thù
- Nhân duyên quán: Quán tất cả pháp đều do nhân duyên mà thành, không có một pháp nào riêng biệt trong thế giới tương tức tương nhập ( Kinh hoa nghiêm), không chân thật, không trường tồn, để đọan trừ ngu si thiên chấp.
- Giới phân biệt quán: Nghĩa là phân biệt và quán sát sự giả hợp của 18 giới ( 6 căn, 6 trần, 6 thức) để thấy không thật có ngã pháp và diệt trừ ngu si cố chấp.
- Sổ tức quán: Nghĩa là quán hơi thở, để đối trị tâm tán lọan để đi sâu vào thiền định.
b. Thiền định không chân chánh:
-Thiền định để cầu thác sinh các cõi trời.
-Thiền định để luyện bùa chú, thần thông, phép lạ, trường sanh bất tử.
III/ Tu tập Bát chánh đạo:
A-Con đường tu tập Bát chánh đạo cũng chính là con đường tu tập của Giới-Định-Huệ:
Tu tập chánh ngữ - chánh nghiệp - chánh mạng là tu tập, các điều thiện. Là tu tập Giới vô lậu học.
Chánh tinh tấn - chánh niệm - chánh định là tu tập Tứ niệm xứ và Tứ chánh cần. Là tu tập Định vô lậu học.
Chánh kiến - chánh tư duy là tu tâp về Tuệ vô lậu học của Tam vô lậu học.
Tuy nhiên, để phát triển trí tuệ chúng ta cần phải có sự hổ trợ của Tam học là Văn-Tư-Tu.
B-Con đường tu tập Bát chánh đạo là con đường tu tập của ba mươi bảy phẩm trợ đạo (Đạo đế):
Đạo đế trong giáo pháp Tứ đế bao gồm như là ba mươi bảy phẩm trợ đạo, được đức Phật đề cập như là Bát chánh đạo.
Chánh kiến là Tuệ căn –Tuệ lực.
Chánh tinh tấn là nội dung của Tứ chánh cần.
Chánh niệm chính là nội dung của Tứ Niệm xứ.
Chánh tư duy là trạch pháp……..
Chánh định là hỷ, khinh an, định, xã….
IV/ Công năng và ích lợi tu tập Bát chánh đạo:
A. Công năng:
1. Cải thiện tự thân: Người chuyên tu Bát chánh đạo cải thiện được hành vi bất chính, tạo cho tự thân một đời sống chân chánh ích lợi và thiện mỹ.
2. Cải tạo hòan cảnh: Thế giới quan bên ngòai được hình thành từ tâm niệm, là kết quả của hành vi. Do đó, nếu thực hành theo Bát chánh đạo thì có thể tạo được một thế giới tòan mỹ.
3. Làm căn bản cho chánh giác: Bát chánh đạo là nền tảng căn bản đầu tiên cho sự giác ngộ chân chánh.
B. Ích lợi thực hành Bát chánh đạo:
1. Có kiến thức chân chánh không bị mê hoặc và lôi cuốn bởi ngọai đạo tà giáo.
2. Suy nghĩ chơn chánh không bị sa vào lỗi lầm đen tối.
3. Lời nói chân chánh lợi mình lợi người.
4. Hành động chân chánh có ích cho mình và không làm thương tổn người khác.
5. Đời sống chân chánh không bị khinh rẽ, chê bai, được mọi người mến mộ, kính trọng.
6. Siêng năng chơn chánh sẽ thu được nhiều kết quả.
7. Nhớ nghĩ chân chánh giải tõa được sự nuối tiếc.
8. Thiền định chơn chánh trí huệ phát triển và Phật quả viên thành.
V/ Kết luận:
Bát Chánh đạo chính là phương pháp tu phổ biến cho tại gia lẫn xuất gia, trong bất cứ hòan cảnh, môi trường cũng có thể thực hiện được.
Tu tập Bát chánh đạo chính là tu tập Thân - Khẩu - Ý của chúng ta, khi thực hành Bát chánh đạo thì gặt hái nhiều kết quả tốt.
Bát chánh đạo lại là nền tảng chánh giác, là căn bản của Giải thóat - Giác ngộ.
Câu hỏi ôn tập -Tìm tòi- Suy nghĩ:
1-Bát chánh đạo gồm những gì? Phối hợp với Tam vô lậu học ra sao?
2-Trong tám chi của Bát chánh đạo, chi nào được coi là nồng cốt?
3-Bát chánh đạo có phải là một luân lý?
4-Phật tử sống như thế nào mới được gọi là sống chánh mạng?
5-Áp dụng Bát chánh đạo thế nào trong trào lưu tòan cầu hóa hiện nay?
---------------------------
Tài liệu tham khảo
Minh Châu-Thiên Ân - Chơn Trí - Đức Tâm, Phật pháp. Thành hội Phật giáo Tp Hồ Chí Minh. Nxb TP. Hồ Chí Minh, 1997.
Thích Chơn Thiện, Phật học khái luận. Nxb TP. Hồ Chí Minh,1999.
H.T.Thích Thiện hoa, Phật học phổ thông, Thành hội Phật giáo Tp. Hồ Chí minh ấn hành, quyển I_II_III. 1992.
Thích Nhất hạnh, Trái tim của Bụt, NXB. Lá bối, California, USA.1997.
Narada Thera, Phạm Kim Khánh dịch, Đức Phật và Phật pháp, Thành hội Phật giáo Tp. Hồ Chí Minh, 1993.
---------------------------------
ĐỨC TIN CỦA NGƯỜI HUYNH TRƯỞNG GIA ĐÌNH PHẬT TỬ
I\ Mở Đề:
Kinh Hoa Nghiêm nói rằng: “Tín là gốc của Đạo, là mẹ đẻ của mọi thứ công đức, nuôi lớn hết thảy gốc của Thiện”. Đối với tôn giáo nói chung, đức tin phần lớn là bước đầu tiên để con người phát sinh lòng mến yêu đạo. Trong đạo Phật, tín là một trong những điều kiện căn bản để thành tựu các công đức lành (Tín- Hạnh- nguyện). Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã từng nói: Tin ta mà không hiểu ta là hủy báng ta.
II/ Nội dung:
1.Vấn đề đức tin:
Trong mỗi chúng ta, ai cũng có niềm tin vào một đối tượng. Nếu phát triển niềm tin đó thì đưa đến đức tin và sâu hơn nữa, danh từ trong kinh điển thường diễn tả người có lòng tin sâu sắc là Thâm tín. Đây là những giai đoạn lòng tin phát triển như một lộ trình đã định. Luận đại trí độ đã nói: “Biển cả Phật pháp mênh mông, sâu thẳm, nếu không có Tín, thì không thể vào được”.
Nếu như không có một niềm tin vào một chủ thuyết, đối tượng nào đó, thì chắc chắn chúng ta sẽ không quan tâm hoặc tìm hiểu chủ thuyết và đối tượng ấy. Đối với đạo Phật cũng thế, khi có niềm tin vào tam bảo thì chúng ta bắt đầu tìm hiểu tam bảo sâu sắc hơn. Niềm tin chân chánh cần phải có sự lựa chọn, bởi không có một chủ thuyết, đối tượng nào là chân lý; vì chỉ có chủ thuyết và đối tượng phù hợp với chúng ta mà thôi. Khi đã có niềm tin vững chắc vào đối tượng thì đức tin bắt đầu nảy sinh, và từ đó phụ thuộc vào sự tin hiểu của mỗi người để phân biệt Chánh- Tà.
2. Đức tin của người Phật tử:
Như trên đã nói TÍN nghĩa là lòng tin hay đức tin, là bước chân đầu tiên để bước vào đạo và để thành tựu mọi hạnh nguyện, công đức lành. Tuy nhiên không phải lòng tin nào cũng cần thiết và dẫn đến kết quả tốt đẹp. Có lòng tin giúp cho con người thăng tiến hằng ngày. Ngược lại, có lòng tin dẫn con người đi vào tử lộ. Nhà Phật thường nói là chánh tín và mê tín. Chánh tín là lòng tin chân chánh. Lòng tin này, được lựa chọn, suy nghĩ, cân nhắc và phân tích, tìm hiểu rõ ràng bằng hiểu biết minh mẫn, phù hợp với chính mình. Mê tín là lòng tin mù quáng. Lòng tin này, là lòng tin vội vã, mù quáng, xu hướng theo chiều tình cảm, hoặc do sự áp đặt gia đình và truyền thống từ xưa.
Thế nào là phân biệt giữa chánh tin và mê tín? Chúng ta cũng đã từng nghe đức Phật dạy cho những người Bà la môn, khi những người này tham hỏi với đức Phật về niềm tin, nên tin vào ai và chủ thuyết nào. Bởi lẽ có quá nhiều chủ thuyết và ai cũng bảo chủ thuyết của mình là đúng, còn những chủ thuyết khác thì sai. Đức Phật dạy thế này: “Này những người Kamala, không nên chấp nhận điều gì chỉ vì nghe nói lại. Không nên chấp nhận điều gì chỉ vì tập tục cổ truyền để lại như thế.Không nên chấp nhận điều gì bởi vì lời đồn đãi. Không nên chấp nhận điều gì chỉ vì được ghi chép trong kinh sách, do ức đoán như vậy, suy diễn như vậy, do nhận thấy bề ngoài. Không nên chấp nhận điều gì chỉ vì điều ấy hợp với thành kiến của mình, hình như có thể chấp nhận được. Không nên chấp nhận điều gì chỉ vì nghĩ rằng vị tu sĩ thốt ra, điều ấy được kính trọng từ trước. Chỉ tin sau khi các người hiểu rõ ràng, những điều nầy phù hợp với luân lý; những điều nầy không bị khiển trách, những điều nầy được các bậc thiện trí thức tán dương, nếu thực hiện điều nầy sẽ được an vui hạnh phúc, thì các người hãy hành động đúng như vậy ”.
Người Phật tử là người học hạnh giác ngộ, người hiểu biết, người có trí tuệ. Do vậy, lòng tin của người Phật tử vào đời sống và cuộc đời, lý tưởng của mình cần phải rõ ràng, sáng suốt, đức tin ấy phải dẫn đến hứơng thượng, chánh tín.
3. Phật tử tin những gì ?
a. Tin vào đức Phật (Phật bảo):
Trước hết người Phật tử cần nên xác định chính xác và chắc chắn rằng, Đức Phật không phải là một vị thần linh, một thiên sứ, một đấng tối cao đủ khả năng thưởng phạt, ban cho, cấm cản, chi phối cuộc đời của mình. Ngài chỉ là một chúng sanh như bao nhiêu chúng sanh khác nhưng đã giác ngộ; chúng ta tin vững chắc Đức Phật là một con người giác ngộ. Sự giác ngộ của Ngài là một quá trình tu tập, tinh tấn phá trừ vô minh vọng tưởng, dũng lực chiến thắng ma quân. Cuộc đời của Ngài là một bài học tự chiến thắng chính mình, chiến thắng mọi dục vọng, chiến thắng vô minh, phiền não và khổ đau.
b. Tin vào lời dạy của Ngài (Pháp bảo):
Lời dạy của đức Phật là những bài học rút ra từ sự chứng ngộ, thực nghiệm chân lý của Ngài. Lời dạy này xuất phát từ lòng tin vững chắc, sáng suốt vào bản thân của Ngài, để giúp chúng sanh khám phá ra con đường giác ngộ cho chính mình và giúp họ vượt khỏi bể khổ đau của kiếp người, mong kiến tạo một cõi hạnh phúc tương đối ở thế gian, sau đó, dẫn đến niết bàn an vui. Giáo pháp đó nói rõ, đâu là sự thật cuộc đời, chúng được xây dựng bởi những chất liệu: Khổ- Không và Vô Ngã..v.v. Tin vào giáo pháp của đức Phật như là những vị diệu dược mà Ngài là danh y, còn chúng ta là những con bệnh trầm kha cần được trị liệu.
c. Tin vào chúng Tăng (Tăng bảo):
Tăng là chỉ cho những người xuất gia theo Phật, những người tự mình thóat khỏi sự ràng buộc gia đình, thê tử để nhập vào giáo đoàn của đức Phật, trở thành những người quay lưng với mong cầu của thế gian hướng đến tuệ giác cao thượng, hướng đến con đường giải thoát và cùng lập nguyện cứu độ chúng sanh. Tin vào chí nguyện của chư Tăng, phật tử có lòng tin thật vững chắc vào sự nghiệp cao cả của Tăng đoàn, để cùng nhau phát tâm làm lợi lạc chúng sanh.
d. Tin vào năng lực của chính mình:
Tự Qui Y Phật là những lời nhắn nhủ chúng ta nên nhớ, nên biết trong mỗi người đếu có Phật tánh, nếu chúng ta cố gắng thực hành lời phật dạy, đưa sự tu tập vào cuộc sống thì chắc chắc sẽ thành tựu theo chí nguyện giác ngộ. Chúng ta đừng nên ỷ lại vào đức Phật, lời dạy của Ngài và chư Tăng; nghĩ rằng tam bảo sẽ giúp chúng ta chỉ thông qua sự cầu nguyện. Trong khi đó, đối với Phật giáo, tha lực là yếu tố cần thiết chứ không phải là chủ đạo. Nếu như chỉ dựa vào tha lực, không khơi dậy lòng tự tín trong ta, thì vô tình chúng ta đã biến đức Phật như vị thần linh, giáo pháp như thần dược và chư tăng như những vị phù thuỷ tài ba. Tin vào khả năng của mình thì chúng ta mới có đủ sức mạnh và lòng kiên trì để học đạo.
e. Tin vào Gia Đình Phật Tử:
Gia đình Phật tử là một tập thể người, sinh hoạt có tổ chức, có lòng tin vững chắc vào Tam bảo, thiết lập đời sống có đức hạnh, kỷ luật, là một tổ chức tầng lớp người tri thức, sống có lý tưởng, biết phục vụ cho nhân quần xã hội, làm lợi lạc chúng sanh dựa trên căn bản lời Phật dạy. Tổ chức này đã và đang dần lớn mạnh từ nội dung đến hình thức hơn 50 năm qua và sẽ tiếp tục lớn mạnh. Tin rằng tổ chức gia đình Phât tử không bị gãy đổ, tác động bởi nhiều thế lực, nội ma, ngoại chướng. Có lòng tin vững chắc như vậy, chúng ta mới gìn giữ và phát triển được tổ chức áo lam mà chúng ta đã chọn hướng theo.
III/ Kết luận:
Chánh tín là điều kiện cần thiết để mỗi người tự thiết lập cho mình một mối tương quan giữa cuộc đời và môi trường xung quanh, không sợ bị lầm lạc và dẫn đến vong tâm.
Chánh tin giúp cho chúng ta có nhận thức đúng đắn vào lý tưởng của mình, từ đó chúng ta mới có đủ sức mạnh, nghị lực để bảo vệ lý tưởng ấy dù có gặp nhiều chông gai.
Chánh tín cho chúng ta đủ cơ sở và lý luận để trình bày niềm tin của mình trước những vấn nạn và thể hiện được sự hiểu biết sâu sắc vào lý tưởng mà chúng ta đang theo.





7
2262
80830
